Liên kết chuỗi sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ có liên kết theo chuỗi giá trị là một trong những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường. Đồng thời, sản xuất theo hướng hữu cơ giúp tạo ra những sản phẩm tốt, chất lượng, an toàn thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.
Nông dân xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ (Hưng Yên) thu hoạch rau an toàn.
Nông dân xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ (Hưng Yên) thu hoạch rau an toàn.

Nông nghiệp hữu cơ là quá trình sản xuất nhằm bảo đảm hệ sinh thái bền vững, tạo ra thực phẩm an toàn, dinh dưỡng tốt do không sử dụng hóa chất. Trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, liên kết chính là chìa khóa giúp hướng đến nền nông nghiệp hiện đại, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia. Tổ chức sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo chuỗi với sự liên kết ngang và liên kết dọc, trong đó liên kết ngang giữa nông dân với nông dân, hợp tác xã với hợp tác xã, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và liên kết dọc giữa nông dân với hợp tác xã và doanh nghiệp.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam Đào Thanh Vân cho rằng: "Các doanh nghiệp khi tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ theo hợp đồng sẽ giúp giảm chi phí đầu tư đất đai, nhà xưởng, máy móc nên rút ngắn được thời gian hoàn vốn. Thông qua liên kết, doanh nghiệp sẽ kiểm soát được toàn bộ quy trình sản xuất và truy xuất nguồn gốc của các sản phẩm thu mua và có nguồn cung ổn định. Các tổ chức, cá nhân khi tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ theo hợp đồng sẽ bảo đảm đầu ra cho sản phẩm, giảm rủi ro về giá cả. Bên cạnh đó, người sản xuất tiếp cận tốt hơn với công nghệ sản xuất mới, nguồn tín dụng…".

Hiện cả nước có 62 địa phương thực hiện sản xuất nông nghiệp hữu cơ hoặc chuyển đổi sang canh tác hữu cơ với diện tích hàng trăm nghìn héc-ta. Hơn 7.000 nông dân tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ, 60 đơn vị kinh doanh, phân phối, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hữu cơ...; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đạt khoảng 350 triệu USD/năm. Hiện có 20 đơn vị xuất khẩu rau, quả, cà-phê, gạo, hạt điều, hồ tiêu, đạt sản lượng 260 nghìn tấn/năm với thị trường chính là: Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan…

Thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã xây dựng một số mô hình liên kết chuỗi sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững. Trong đó, mô hình hợp tác xã liên kết sản xuất lúa gạo hữu cơ theo chuỗi giá trị tại các địa phương như: Sơn La, Vĩnh Phúc, Thừa Thiên Huế với quy mô 570 ha. Mô hình sản xuất lúa hữu cơ đã được nhân rộng lên 1.710 ha và đã hình thành chín hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới góp phần gắn kết giữa ba nhà: Nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học; giá thu mua lúa cao hơn giá thị trường từ 1.200 đến 1.500 đồng/kg, hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất thông thường 5,3 triệu đồng/ha. Mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ rau theo hướng hữu cơ với quy mô 125 ha ở các địa phương là: Hà Nội, Hòa Bình, Lâm Đồng và Đồng Nai, hiệu quả kinh tế thông qua liên kết tăng từ 22 đến 156%...

Việt Nam có 11,3 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, diện tích sản xuất hữu cơ mới hơn 170 nghìn, điều này cho thấy tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ ở nước ta còn rất lớn khi nhu cầu tiêu dùng sản phẩm này ở trong nước và thế giới ngày càng tăng lên.

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cho rằng, hiện nay, sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam còn gặp những thách thức do thói quen sử dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học; sản xuất nông nghiệp hữu cơ manh mún, diện tích ít, chưa tập trung; chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về chuỗi khép kín trong sản xuất, chế biến hữu cơ cho nên nhiều doanh nghiệp gặp vướng mắc; tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ ít về số lượng cũng như quy mô…

Còn theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam Đào Thanh Vân, hiện nay người tiêu dùng trong nước chưa biết nhiều và hiểu sâu về nông nghiệp hữu cơ và sản phẩm hữu cơ. Vì vậy, chưa tồn tại hay hình thành thị trường tiêu thụ tại chỗ và chưa khuyến khích các tác nhân tham gia chuỗi liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ; danh mục đầu vào được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ chưa được ban hành, dẫn đến mối liên kết trong chuỗi giá trị còn lỏng lẻo, nhất là ở khâu cung ứng vật tư, bảo đảm sản phẩm có chất lượng theo tiêu chuẩn.

Nhằm phát triển nông nghiệp hữu cơ, thời gian tới các bộ, ngành, địa phương cần xây dựng các cơ chế, chính sách riêng hỗ trợ cho phát triển các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ chủ lực, có lợi thế; phát triển đa dạng các mô hình sản xuất hữu cơ có liên kết theo chuỗi giá trị; hỗ trợ tìm kiếm thông tin, nhu cầu thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; kêu gọi các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ; tăng cường hợp tác với các nước, tổ chức quốc tế để thúc đẩy phát triển bền vững nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam.

Mặt khác, cần xây dựng các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm hữu cơ tại các vùng sản xuất tập trung tạo ra hàng hóa quy mô lớn đối với các sản phẩm chủ lực; sản xuất hữu cơ gắn với chuỗi giá trị cho các sản phẩm chủ lực nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí đầu vào, giảm phát thải khí nhà kính; xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ; ứng dụng công nghệ cao để chế biến sâu, tinh chế tạo ra sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có giá trị cao mang thương hiệu; tăng cường công tác đào tạo chuyên gia chuyên sâu về nông nghiệp hữu cơ ở cả Trung ương và địa phương…

Có thể bạn quan tâm

Ban tổ chức Hội chợ kết nối giao thương và quảng bá sản phẩm Việt Nam-Campuchia 2026 họp thống nhất phương án. (Ảnh: Bộ Quốc phòng)

Động lực thúc đẩy hợp tác thực chất Việt Nam-Campuchia

Trong tổng thể mối quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Việt Nam-Campuchia, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư ngày càng khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng, tạo động lực thúc đẩy hợp tác thực chất, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Văn bản hợp nhất số 123/2026/VBHN-TT-BXD được áp dụng đối với tàu biển, cảng biển hoạt động tuyến quốc tế.

Hoàn thiện khung pháp lý về an ninh tàu biển, cảng biển theo tiêu chuẩn quốc tế

Bộ Xây dựng vừa hoàn tất xác thực và ban hành Văn bản hợp nhất số 123/2026/VBHN-TT-BXD, quy định chi tiết việc thực hiện các tiêu chuẩn an ninh hàng hải quốc tế theo Công ước SOLAS 74 và Bộ luật ISPS, đồng thời chuẩn hóa các thủ tục hành chính trong cấp giấy chứng nhận an ninh đối với tàu biển, cảng biển Việt Nam.

(Ảnh minh họa có sử dụng yếu tố AI)

Hỗ trợ người bán hàng trực tuyến thực hiện nghĩa vụ thuế

Sự bùng nổ của kinh doanh trực tuyến kéo theo yêu cầu quản lý thuế dựa trên dữ liệu, đặt ra bài toán về chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và hộ cá thể. Trước áp lực đối soát dòng tiền và hóa đơn phức tạp, người bán hàng trực tuyến cần những giải pháp hỗ trợ thực chất để vừa chuẩn hóa pháp lý, vừa bảo toàn hiệu quả kinh doanh.

Công ty Cổ phần Phát triển nông nghiệp AgriS-Chi nhánh Khánh Hòa tổ chức gặp gỡ nông dân trồng mía khu vực phía nam Khánh Hòa để tuyên truyền các biện pháp hỗ trợ phục hồi vùng nguyên liệu ảnh hưởng nắng hạn, chủ động sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu. (Ảnh: VINH THẮNG)

Đồng hành cùng nông dân vượt khó, khôi phục vùng mía nguyên liệu

Nắng hạn kéo dài khiến hàng nghìn héc-ta mía ở phía nam tỉnh Khánh Hòa giảm năng suất, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người trồng. Trước khó khăn ấy, Công ty Cổ phần Phát triển nông nghiệp AgriS-Chi nhánh Khánh Hòa đã có nhiều giải pháp hỗ trợ, cùng nông dân phục hồi vùng nguyên liệu, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nhiều dự án nhà ở xã hội đang được triển khai nhằm bổ sung nguồn cung cho thị trường. (Ảnh: KC)

Đẩy nhanh dòng vốn cho nhà ở xã hội

Quy mô chương trình tín dụng nhà ở xã hội đã mở rộng lên hơn 153 nghìn tỷ đồng, cam kết cho vay tăng gần 3 lần so với cuối năm 2025. Trong khi nhu cầu vay vốn còn lớn, việc tháo gỡ vướng mắc về nguồn cung, tiến độ dự án là yếu tố quan trọng để thúc đẩy giải ngân.

Ông Lê Hoàng Chính Quang - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Ngân hàng Nhà nước. (Ảnh: VIỆT PHONG)

Bảo vệ khách hàng trước lừa đảo công nghệ cao

Theo ông Lê Hoàng Chính Quang, Cục trưởng Công nghệ thông tin (Ngân hàng Nhà nước), tội phạm công nghệ cao liên tục thay đổi thủ đoạn, sử dụng trí tuệ nhân tạo để giả mạo hình ảnh, giọng nói, tìm cách vượt qua các lớp xác thực và chiếm đoạt tài sản.

Nghề đan lát được quảng bá tại lễ hội của xã. (Ảnh: HẰNG)

Người dân tộc “giữ lửa” nghề truyền thống

Thời gian qua, xã La Dạ (tỉnh Lâm Đồng) đã chú trọng quảng bá hình ảnh nghề truyền thống của người đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa và phát triển sinh kế. Song song đó, chính quyền xã luôn khuyến khích người dân duy trì nghề truyền thống, từng bước gắn phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Toàn cảnh cuộc họp báo. (Ảnh: Việt Phong)

Chủ động điều hành chính sách tiền tệ, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

Chín tháng năm 2026, chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần ổn định thị trường và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, biến động thị trường quốc tế và yêu cầu vốn cho tăng trưởng tiếp tục đặt ra bài toán cân đối giữa hỗ trợ sản xuất, kinh doanh với bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Rà soát dữ liệu người nộp thuế gắn với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. (Ảnh: M.P)

Ngăn mạo danh, bảo vệ quyền lợi người nộp thuế

Không thành lập doanh nghiệp, không nhận thu nhập nhưng thông tin cá nhân vẫn xuất hiện trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, kê khai thuế. Những phản ánh được tiếp nhận đặt ra yêu cầu xác minh kịp thời, tách bạch trách nhiệm của người bị mạo danh và ngăn việc lợi dụng dữ liệu cá nhân ngay từ khâu đăng ký.

Toàn cảnh hệ thống dây chuyền bốc rót than của Công ty Tuyển than Cửa Ông-TKV. (Ảnh QUANG THỌ)

Công ty Tuyển than Cửa Ông chăm lo tốt đời sống người lao động

Trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành than còn nhiều khó khăn, Công ty Tuyển than Cửa Ông vẫn duy trì ổn định nhịp độ sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ than; đồng thời, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công nhân lao động, tạo động lực hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm 2026.

Diễn đàn kỳ vọng góp phần kết nối 3 yếu tố dữ liệu, công nghệ và thị trường, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng thực chất, phù hợp hơn với điều kiện của khu vực kinh tế tập thể. (Ảnh: HNV)

Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường

Chuyển đổi số đang trở thành một yêu cầu ngày càng rõ nét đối với khu vực kinh tế tập thể. Tuy nhiên, với nhiều hợp tác xã, vấn đề đặt ra không chỉ là lựa chọn công nghệ nào mà còn là chuyển đổi số để giải quyết bài toán gì, bắt đầu từ đâu và làm thế nào để tạo ra hiệu quả thực chất.