Đóng góp quan trọng vào xuất khẩu gạo cả nước
Từ lâu, An Giang đã khẳng định vị thế trụ cột trong bản đồ an ninh lương thực quốc gia với tổng diện tích gieo trồng lúa hơn 1,3 triệu ha, cho sản lượng hơn 8,8 triệu tấn/năm. Trong đó, với hơn 50% diện tích là lúa chất lượng cao, địa phương đóng góp vai trò quan trọng vào xuất khẩu gạo của cả nước.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, vụ đông xuân 2025-2026 toàn tỉnh gieo sạ 503.563 ha. Nhờ thời tiết thuận lợi và canh tác đúng kỹ thuật, năng suất bình quân đạt khoảng 7,8 tấn/ha, tăng 2,5% so với kế hoạch và tăng gần 3% so với cùng kỳ năm 2024. Tổng sản lượng đạt xấp xỉ 3,93 triệu tấn. Các giống lúa chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu như: Đài Thơm 8, OM18, ĐS1, OM5451, và các dòng ST24, ST25 tiếp tục chiếm ưu thế trên đồng ruộng.
Đáng chú ý, việc triển khai Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long” tại An Giang đã mang lại hiệu quả. Năm 2025, tỉnh thực hiện được 150.151 ha, vượt 4% kế hoạch đề ra.
Kết quả thực tế từ 8 mô hình trình diễn điểm (quy mô gần 400 ha) cho thấy tín hiệu khả quan: Chi phí sản xuất trung bình chỉ còn 22,2 triệu đồng/ha (giảm hơn 3,2 triệu đồng so với canh tác truyền thống), trong khi lợi nhuận đạt tới 30,5 triệu đồng/ha (tăng thêm 4,3 triệu đồng/ha); giá thành sản xuất mỗi kilôgam lúa giảm từ 2.870 đồng xuống còn 2.450 đồng.
Theo ông Đặng Thanh Phong, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, dù năng suất tăng, nhưng lợi nhuận thực tế của phần lớn nông dân không cao. Nguyên do, giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhất là xăng dầu tăng cao, đã đẩy chi phí sản xuất lên rất cao.
Bên cạnh đó, hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ và nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế đang là những rào cản lớn. “Một thực tế đáng lo ngại là phần lớn diện tích lúa, kể cả trong đề án 1 triệu ha, vẫn chưa thiết lập được liên kết bền vững với doanh nghiệp. Người nông dân vẫn loay hoay trong vòng xoáy “được mùa mất giá” và phụ thuộc rất nhiều vào thương lái”, ông Đặng Thanh Phong đánh giá.
Bước sang vụ hè thu 2026, An Giang gieo sạ 505.500 ha với mục tiêu sản lượng khoảng 3 triệu tấn. Tuy nhiên, nhiều nông dân vẫn bày tỏ nỗi lo âu. Ông Lê Quốc Đạt (ngụ ấp Tây Sơn 1, xã An Biên), người đang canh tác 18 công ruộng nhà và 15 công đất thuê, trăn trở: “Vụ đông xuân vừa rồi, dù sản lượng lúa tốt, nhưng tiền phân, tiền thuốc, tiền dầu bơm nước đều tăng cao. Với giá lúa hiện nay, người làm đất nhà chỉ có chút lời, còn ai đi thuê đất như tôi thì cầm chắc phần lỗ. Vụ hè thu tới đây năng suất thường thấp hơn đông xuân, nếu giá lúa không tăng và chi phí không giảm, chúng tôi chưa biết xoay xở thế nào”.
Chung nỗi lo, ông Phạm Văn Phát (khu vực 2, xã An Biên) dẫn chứng cụ thể về sự chênh lệch giá cả: Hiện tại, một bao đạm Phú Mỹ hay Cà Mau 50 kg có giá từ 920.000-960.000 đồng, DAP dao động từ 1,3- hơn 1,4 triệu đồng. Trong khi đó, giá lúa thương lái thu mua chỉ quanh mức 5.700 - 6.000 đồng/kg. “Với tỷ lệ này, nông dân gần như làm không công trên mảnh ruộng của mình”, ông Phát bộc bạch...
Sự bấp bênh của thị trường cùng với tập quán bón thừa phân, phun thuốc... theo kinh nghiệm cũ của một bộ phận nông dân vẫn là lực cản lớn khiến giá thành sản xuất khó tối ưu. Sự thay đổi tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” vẫn cần thêm thời gian, sự hỗ trợ quyết liệt từ các cấp, ngành.
Cần sự liên kết đồng bộ hơn
Để tháo gỡ khó khăn, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang tổ chức hội nghị sơ kết sản xuất, nơi các “nhà” (Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà băng) cùng ngồi lại để tìm tiếng nói chung. Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, đã chỉ ra một “điểm nghẽn”, đó là sự chậm trễ trong thủ tục hành chính.
Ông Bình cho rằng, dù chính sách từ Trung ương đã rất rõ, nhưng việc thiếu các quyết định phê duyệt dự án cụ thể từ địa phương đang khiến chuỗi liên kết bị “đóng băng”. “Doanh nghiệp không dám đầu tư mạnh tay, ngân hàng cũng không có căn cứ để cho vay nếu thiếu cơ sở pháp lý. Chúng ta cần một hành lang thông thoáng để 4 nhà cùng chạy hết tốc độ”, ông Bình nhấn mạnh.
Trong khi đó, đại diện Agribank Chi nhánh tỉnh Kiên Giang cũng chỉ ra tình trạng “bẻ kèo”, khi giá lúa biến động và sự thiếu hụt hạ tầng logistics đạt chuẩn làm tài sản bảo đảm đang khiến dòng vốn tín dụng khó chảy mạnh vào nông nghiệp. Ngân hàng đã kiến nghị Chính phủ sớm hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch bảo đảm trên đất nông nghiệp và tăng cường quỹ bảo lãnh tín dụng cho các hợp tác xã.
Ở khía cạnh tích cực, mô hình của Hợp tác xã Dịch vụ Phú Nông Xanh (xã Vĩnh Điều) là một điểm sáng. Ông Trần Văn Hai, Giám đốc Hợp tác xã, chia sẻ: “Chúng tôi tổ chức sản xuất theo đơn đặt hàng, áp dụng công nghệ để giảm giống và vật tư. Khi nông dân tham gia chuỗi giá trị và thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, lợi nhuận sẽ được bảo đảm bất chấp những biến động nhỏ của thị trường”.
Bà Nguyễn Duy Linh Thảo, Phó Giám đốc Sở Công thương tỉnh An Giang cho biết, ngành công thương đang nỗ lực điều tiết cung-cầu. Trong bối cảnh các đối thủ như Ấn Độ, Thái Lan gia tăng nguồn cung, An Giang định hướng chuyển từ tư duy “bán cái mình có” sang “bán cái thị trường cần”.
Ngành Công thương cam kết bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định cho sản xuất, đồng thời tăng cường kiểm soát thị trường vật tư nông nghiệp để ngăn chặn tình trạng đầu cơ, găm hàng. Hiện, tỉnh đang kêu gọi đầu tư vào hệ thống trung tâm sấy, kho bãi và chế biến sâu để nâng giá trị gia tăng của hạt gạo thêm 20-30%.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Ngô Công Thức nhấn mạnh: Để đạt mục tiêu tăng trưởng ngành nông nghiệp 3,98% trong năm 2026, toàn ngành phải coi Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao là nhiệm vụ trọng tâm. Tỉnh đặt mục tiêu đưa diện tích này lên 183.597 ha trong năm 2026.
Ngành nông nghiệp rà soát hệ thống trạm bơm, ưu tiên chuyển đổi từ trạm bơm dầu sang trạm bơm điện để cắt giảm chi phí năng lượng; cần kiên trì hướng dẫn nông dân lịch xuống giống “né rầy” và áp dụng các quy trình giảm giống, giảm phân để hạ giá thành chi phí...