Kỳ 1: Giành độc lập cho dân tộc - tạo dựng nền tảng cho hạnh phúc của nhân dân

Đảng Cộng sản Việt Nam: Hành trình hiện thực hóa hạnh phúc cho nhân dân

Kỳ 1: Giành độc lập cho dân tộc - tạo dựng nền tảng cho hạnh phúc của nhân dân

Giữa màn đêm nô lệ, độc lập, hạnh phúc là khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc nhưng cũng là ước mơ xa vời khi các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra, nhưng đều thất bại. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra con đường giành lại độc lập cho dân tộc, đặt nền tảng để hiện thực hóa khát vọng hạnh phúc của nhân dân.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta phải trải qua một giai đoạn đau thương nhưng cũng đầy quật khởi. Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, nhân dân đã phải sống trong cảnh “một cổ hai tròng”, lầm than và cơ cực.

Sự áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa và tước đoạt quyền cơ bản của con người của kẻ thù đã đẩy nhân dân Việt Nam vào hố thẳm cùng cực của sự bi thương, họ chỉ như là những “bóng ma” vật vờ trên chính mảnh đất quê hương.

Từ bóng tối lầm than của thân phận nô lệ đến ánh sáng vinh quang của tự do, hạnh phúc

Trước vận mệnh sinh tử của dân tộc, nỗi đau mất nước và sự phẫn uất của nhân dân đã trở thành động lực thôi thúc các phong trào yêu nước vùng lên giành độc lập, tự do. Dù diễn ra sôi nổi, thể hiện khí phách quật cường và tinh thần bất khuất của một dân tộc anh hùng, nhưng các phong trào ấy vẫn có chung một kết cục thất bại. Nguyên nhân là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, một tổ chức lãnh đạo đủ bản lĩnh và một hệ tư tưởng khoa học để soi đường, dẫn lối cho cách mạng.

Trong thời khắc lịch sử đó, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 đã tạo nên bước ngoặt vĩ đại của cách mạng. Ngay trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên, Đảng đã chủ trương: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” . Đây không chỉ là sự khẳng định về đường lối chính trị, mà còn là sự lựa chọn về mục tiêu phát triển của dân tộc: Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân; giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Sự lựa chọn ấy thể hiện tầm nhìn lịch sử của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người từng khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc...” . Đó không chỉ là niềm tin, lý tưởng, mà còn là cơ sở quan trọng nhất để Đảng xác lập sứ mệnh của mình: Lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới để mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

Ngay từ khi ra đời, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng xác định được lập dân tộc luôn gắn chặt chẽ với hạnh phúc của nhân dân. Độc lập chỉ thật sự có giá trị khi người dân được sống tự do, ấm no và làm chủ cuộc đời mình.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Dung, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Từ khi ra đời, Đảng đã đặt độc lập trong mối quan hệ hữu cơ với hạnh phúc của Nhân dân. Độc lập không phải là mục tiêu trừu tượng, càng không phải là thành quả dành riêng cho một giai cấp hay một lực lượng chính trị. Độc lập là để nhân dân thoát khỏi kiếp nô lệ, để người dân có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo ngay từ đầu đã mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: Giành lại độc lập cho dân tộc cũng là giành lại quyền làm người cho Nhân dân Việt Nam.

Đánh giá về tầm quan trọng từ sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Dung, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Ngay từ khi ra đời, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng xác định được độc lập dân tộc luôn gắn chặt chẽ với hạnh phúc của nhân dân. Độc lập chỉ thật sự có giá trị khi người dân được sống tự do, ấm no và làm chủ cuộc đời mình”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng cho đường lối đúng đắn ấy. Từ một dân tộc có thời kỳ bị xóa tên trên bản đồ chính trị thế giới, Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập. Từ thân phận nô lệ, nhân dân Việt Nam trở thành công dân của một nước có chủ quyền, người làm chủ đất nước. Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và là lời tuyên bố trước thế giới về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

vna-potal-79-nam-cach-mang-thang-tam-va-quoc-khanh-2-9-1945-2024-moc-son-choi-loi-trong-lich-su-dan-toc-viet-nam-7537361.jpg
Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. Ảnh tư liệu

Ngay sau khi giành được độc lập, tiêu ngữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” được đặt trang trọng dưới Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là tuyên ngôn chính trị sâu sắc về mục tiêu của chế độ xã hội mới: Độc lập là điều kiện đầu tiên, tự do là giá trị căn bản, hạnh phúc là đích đến cuối cùng. Ba giá trị ấy gắn bó chặt chẽ, tạo thành hệ giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam trong hành trình phát triển mới.

Khẳng định về tính đúng đắn, kịp thời trong chủ trương của Đảng và chính sách của Chính phủ Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thể, nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng khẳng định: “Những quyết sách cấp bách của Chính phủ lâm thời sau Cách mạng Tháng Tám không chỉ nhằm giải quyết tình thế hiểm nghèo trước mắt, mà còn thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội luôn vì con người, lấy hạnh phúc của con người làm mục tiêu cao nhất”.

Trong chặng đường lịch sử 1945-1975, khát vọng hạnh phúc của nhân dân tiếp tục được viết nên bằng ý chí chiến đấu, hy sinh và niềm tin tất thắng của cả dân tộc. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng, là cuộc chiến giữ vững quyền độc lập, khẳng định một chân lý về một dân tộc Việt Nam không cam chịu kiếp nô lệ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc trường chinh vĩ đại để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Hạnh phúc của một dân tộc không thể trọn vẹn khi non sông còn chia cắt, máu của đồng bào còn đổ xuống trên mảnh đất quê hương. Vì vậy, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước không chỉ là nhu cầu sinh tồn, mục tiêu chính trị, mà còn là đòi hỏi sâu xa của hạnh phúc.

Hiện thực hóa hạnh phúc của nhân dân bằng những chủ trương, chính sách vì dân

Hạnh phúc không phải và không bao giờ là một khái niệm trừu tượng, xa rời đời sống, chỉ tồn tại như một giá trị định tính, mà phải được lượng hóa bằng những tiêu chí cụ thể của đời sống con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Đó là cách tiếp cận rất hiện thực và nhân văn: giá trị của độc lập, tự do không nằm ở những tuyên ngôn chính trị, mà được kiểm nghiệm trong chính đời sống hằng ngày của nhân dân. Khi người dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, có việc làm, được bảo đảm an sinh và có cơ hội phát triển, khi đó hạnh phúc mới trở thành giá trị hiện hữu, có thể cảm nhận, đo lường và thụ hưởng.

Chính từ nhận thức ấy, ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng đã từng hiện thực hóa khát vọng hạnh phúc của nhân dân thành những chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực, nhằm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Minh chứng rõ nét là ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3/9/1945), Đảng và Chính phủ đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt” và chuẩn bị Tổng tuyển cử. Trong hoàn cảnh đất nước vừa thoát khỏi ách đô hộ, thù trong giặc ngoài bủa vây, ngân khố quốc gia kiệt quệ, Đảng và Chính phủ vẫn đặt đời sống Nhân dân ở vị trí trung tâm. “Diệt giặc đói” nhằm cứu sinh mạng, “Diệt giặc dốt” nhằm nâng cao dân trí, Tổng tuyển cử để thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Ở tầng sâu hơn, đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách của chính quyền non trẻ, mà còn là hành động thiết thực nhất nhằm tạo ra những điều kiện căn bản để nhân dân vươn tới hạnh phúc.

Từ những chính sách đầu tiên ấy thể hiện rõ nét bản chất của chế độ mới: chính quyền cách mạng không chỉ thi hành quyền lực chính trị của một giai cấp hay lợi ích của một lực lượng chính trị, mà để phục vụ nhân dân. Hạnh phúc của nhân dân không phải là một khẩu hiệu xa vời, mà được bắt đầu từ những nhu cầu thiết thân nhất: có cái ăn để vượt qua nạn đói, có con chữ để thoát khỏi dốt nát, được tham gia xây dựng đất nước. Đó là cách Đảng đưa lý tưởng độc lập, tự do, hạnh phúc vào đời sống hằng ngày của nhân dân.

vna-potal-80-nam-cach-mang-thang-tam-cuoc-cach-mang-vi-dai-trang-su-ve-vang-trong-lich-su-dan-toc-viet-nam-8205267.jpg
Trong hoàn cảnh đất nước vừa thoát khỏi ách đô hộ, thù trong giặc ngoài bủa vây, ngân khố quốc gia kiệt quệ, Đảng và Chính phủ vẫn đặt đời sống Nhân dân ở vị trí trung tâm. “Diệt giặc đói” nhằm cứu sinh mạng, “Diệt giặc dốt” nhằm nâng cao dân trí, Tổng tuyển cử để thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Ảnh tư liệu.

Trong kháng chiến, dù điều kiện vô cùng gian khổ, Đảng vẫn nỗ lực không ngừng chăm lo đời sống nhân dân. Chính sách ruộng đất với khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã đáp ứng nhu cầu cơ bản nhất của nông dân, giải phóng sức sản xuất và tạo động lực to lớn cho cách mạng. Các trường học, lớp học, trạm y tế được duy trì trong vùng tự do, vùng căn cứ, chiến khu, thể hiện quan điểm nhất quán: chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc cũng là chiến đấu để con người được sống, được học tập, được chăm sóc và được phát triển.

Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ở miền bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chủ nghĩa xã hội từng bước được xây dựng, trở thành hậu phương vững mạnh của tiền tuyến lớn miền nam. Dù phải đối mặt với chiến tranh phá hoại ác liệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền bắc vẫn nỗ lực phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, bảo đảm đời sống Nhân dân, đồng thời chi viện sức người, sức của cho miền nam. Những nhà máy, trường học, bệnh viện, hợp tác xã, phong trào thi đua lao động sản xuất trong hoàn cảnh chiến tranh đã cho thấy sức sống của một chế độ mới, nơi hạnh phúc gắn liền với trách nhiệm, cống hiến và niềm tin vào tương lai.

Ở miền nam, hạnh phúc hiện diện trong ý chí đấu tranh, trong niềm tin vào ngày đất nước thống nhất, trong khát vọng thoát khỏi áp bức, chiến tranh để được sống trong hòa bình, tự do. Hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã anh dũng hy sinh, bởi họ hiểu rằng không có độc lập, tự do thì không thể có hạnh phúc. Sự hy sinh ấy làm sáng rõ một chân lý: hạnh phúc của dân tộc Việt Nam không phải là món quà được ban phát, mà là thành quả của một hành trình đấu tranh bền bỉ, gian khổ và vô cùng cao cả.

Nhìn lại chặng đường ấy có thể thấy, trong tư duy và hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam, độc lập dân tộc không bao giờ là mục tiêu tự thân. Độc lập là điều kiện tiên quyết để nhân dân có tự do; tự do là tiền đề để con người vươn tới ấm no, hạnh phúc; hạnh phúc của nhân dân là thước đo cao nhất ý nghĩa của độc lập.

Có thể bạn quan tâm

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại cuộc làm việc. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Làm rõ thành tựu vĩ đại và định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tới

Chiều 17/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc về Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu kết luận tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (Thông báo số 90-TB/VPTW, ngày 10/6/2026).

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Bộ Chính trị quyết định 1.878.362 biên chế năm 2026

Bộ Chính trị quyết định tổng biên chế các cơ quan, ban Đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng, cơ quan Mặt trận Tổ quốc ở Trung ương; cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026 là 1.878.362 biên chế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Phát triển đối ngoại tương xứng tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước

Ngày 11/6, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 6/3/2013. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Làm rõ hơn bước chuyển về tư duy trong công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

Chiều 10/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan, cho ý kiến vào việc tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng Đoàn kiểm tra, giám sát số 12 của Bộ Chính trị phát biểu kết luận hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Thông qua kết quả kiểm tra đối với Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương

Chiều 10/6, tại Hà Nội, Đoàn Kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, do đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư làm Trưởng đoàn (Đoàn Kiểm tra số 12) tổ chức Hội nghị thông qua kết quả kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương.

Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đoàn Minh Huấn tiếp ông Lee Hong Chuang, đại biểu Quốc hội Đảng Hành động Nhân dân (PAP) của Singapore. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Đồng chí Đoàn Minh Huấn tiếp Đoàn Đảng Hành động Nhân dân Singapore và Đoàn Đảng Mặt trận Cách mạng vì một Timor-Leste độc lập

Đồng chí Đoàn Minh Huấn chào mừng Đoàn đại biểu Đảng PAP và Đoàn đại biểu Đảng Fretilin sang thăm Việt Nam và đến làm việc tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cho rằng đây là minh chứng sinh động cho quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với hai đảng PAP và Fretilin.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36–NQ/TW, ngày 22/10/2018, về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Xây dựng mô hình quản trị biển hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu

Sáng 8/6, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan, cho ý kiến đối với Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.