Hiểu rõ hơn về bệnh lý u tuyến yên

U tuyến yên là một trong bốn loại u trong sọ hay gặp nhất (u di căn não, u màng não, u tế bào thần kinh đệm và u tuyến yên), phát triển từ tế bào tuyến yên. Đây là u lành tính, phát triển chậm, nằm ở hố yên (ở nền sọ ngay phía sau gốc mũi). Tuyến yên tiết nhiều nội tiết tố quan trọng điều khiển nhiều tuyến nội tiết khác của cơ thể.

Các bác sĩ Trung tâm phẫu thuật thần kinh đánh giá tình trạng người bệnh bị u tuyến yên trên kết quả chẩn đoán hình ảnh.
Các bác sĩ Trung tâm phẫu thuật thần kinh đánh giá tình trạng người bệnh bị u tuyến yên trên kết quả chẩn đoán hình ảnh.

Mỗi năm các bác sĩ chuyên khoa thần kinh của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức điều trị và phẫu thuật hơn 400 người bệnh u tuyến yên. Đây là một trong những cơ sở y tế điều trị bệnh u tuyến yên số lượng lớn nhất tại Việt Nam. PGS,TS Đồng Văn Hệ, Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật thần kinh (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức) cho biết: Bệnh lý u tuyến yên khá hay gặp. Theo nhiều nghiên cứu, cứ 10 người trưởng thành có một người bị u tuyến yên. Nhưng phần lớn những khối u tuyến yên này rất nhỏ, không có triệu chứng lâm sàng hoặc không bao giờ có dấu hiệu gì và không cần điều trị. Người bệnh u tuyến yên phải điều trị chiếm tỷ lệ rất thấp. Khối u tuyến yên chiếm 25% khối u trong sọ được phẫu thuật.

Có nhiều cách phân loại u tuyến yên. Dựa theo tế bào tiết nội tiết tố có thể chia u tuyến yên thành hai nhóm (u tăng tiết và u không tăng tiết); dựa theo kích thước cũng chia u tuyến yên thành hai nhóm, u tuyến yên nhỏ (nhỏ hơn 1cm) và u tuyến yên lớn (lớn hơn hoặc bằng 1cm). Cũng có thể dựa theo tốc độ phát triển chia u tuyến yên thành hai nhóm, u tuyến yên phát triển chậm và u tuyến yên phát triển nhanh… Giống phần lớn các khối u trong sọ hoặc khối u khác, nguyên nhân gây bệnh khối u tuyến yên chưa rõ, một số ít trường hợp có tính di truyền như gia đình bị bệnh khổng lồ. Dấu hiệu người bệnh bị u tuyến yên phụ thuộc nhiều vào loại nội tiết tố khối u tiết ra, kích thước, vị trí, mức độ phát triển của khối u.

Khối u tuyến yên phát triển thường gây ra ba nhóm dấu hiệu: Tăng tiết prolactin khiến người bệnh bị mất kinh nguyệt, chậm kinh nguyệt, rối loạn kinh nguyệt, vô sinh, tiết sữa ở vú (mặc dù không có thai, không có kinh). Một số người đi chữa vô sinh nhiều năm mới phát hiện bị u tuyến yên tăng tiết prolactin. Người bệnh nam giới có thể bị giảm ham muốn tình dục, giảm hoặc mất cương, bất lực. Tăng tiết nội tiết tố tăng trưởng GH (growth hormone) gây cho người bệnh xuất hiện nhiều rối loạn như to đầu chi, mặt to, trán rộng, trán dô, cằm rộng, môi dày, da thô, bàn chân và ngón chân to (người bệnh không tìm được giầy vừa chân), bàn tay và ngón tay to (không đeo được nhẫn)… U tuyến yên tăng tiết ACTH gây bệnh Cushing. Người bệnh thường có dấu hiệu tăng cân, vết rạn da ở bụng, đùi, tay… cơ nhẽo, bụng to, tay chân nhỏ.

Khối u tuyến yên nằm ngay ở hố yên, phía dưới giao thoa thị giác cho nên khi u lớn sẽ khiến người bệnh bị nhiều rối loạn nhìn như nhìn mờ, bán manh. Khi bị bán manh, người bệnh chỉ nhìn thấy hình ảnh ngay phía trước mặt, không nhìn được vật ở phía bên ngoài thái dương (bán manh thái dương), hoặc không nhìn thấy vật ở phía trong (bán manh phía mũi). Một số người bệnh nhận thấy được dấu hiệu bán manh, một số chỉ được bác sĩ phát hiện khi khám bệnh. U chèn ép trong sọ gây tăng áp lực trong sọ như đau đầu, nôn, buồn nôn, rối loạn ý thức… thậm chí hôn mê.

PGS, TS Đồng Văn Hệ cho biết thêm, u tuyến yên thường không phải là ung thư, do đó không di căn đến các bộ phận khác của cơ thể. Tuy nhiên, khi tăng trưởng, chúng có thể chèn ép lên các thần kinh và mạch máu quan trọng. Biến chứng nghiêm trọng nhất là tình trạng mất thị lực hoàn toàn xảy ra khi thần kinh thị giác bị hủy hoại nặng. Bản thân khối u hoặc việc cắt bỏ khối u có thể dẫn đến mất cân bằng nội tiết vĩnh viễn. Cần xử trí bằng liệu pháp bổ sung hormon.

Có nhiều phương pháp điều trị u tuyến yên. Người bệnh được chỉ định phẫu thuật để cắt bỏ khối u thường rất cần thiết, nhất là khi khối u gây chèn ép thần kinh thị giác, và có thể dẫn đến mù lòa. Trong phần lớn trường hợp, u tuyến yên được cắt bỏ qua đường mũi hoặc qua các xoang. Tuy nhiên, một số u không thể phẫu thuật được bằng các đường kể trên và phải mổ cắt bỏ u xuyên qua sọ. Xạ trị cũng được dùng để giảm thể tích khối u. Có thể phối hợp xạ trị với phẫu thuật hoặc sử dụng xạ trị đơn độc ở những trường hợp không thể phẫu thuật. Ngoài ra, người bệnh có thể sử dụng các loại thuốc giúp giảm thể tích một số loại u…

Có thể bạn quan tâm

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Như Hải, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) hướng dẫn sinh viên về thực hành lâm sàng răng hàm mặt.

Đổi mới đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành y tế

Đào tạo bác sĩ nội trú cũng là một hệ đào tạo đặc thù của khối ngành sức khỏe. Trong bối cảnh cả ngành y tế cũng như giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, thì việc đào tạo đội ngũ nhân lực này cũng cần phải có những thay đổi.

Bệnh nhân H. và 2 gói thuốc đông y gia truyền giả bị lừa mua.

Cẩn trọng với thuốc đông y gia truyền giả

Thời gian gần đây, nhiều vụ việc sản xuất, kinh doanh thuốc đông y giả liên tục bị cơ quan chức năng phát hiện và thu giữ. Sản phẩm được quảng cáo là thuốc đông y gia truyền có tác dụng chữa bách bệnh, kể cả ung thư, nhưng bên trong lại chứa chất cấm.

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.