Đẩy mạnh nghiên cứu các nhóm bệnh không lây nhiễm và bệnh lý chuyên sâu

Bệnh viện Nhi Trung ương đang tập trung nghiên cứu nhóm bệnh lý lây nhiễm và bệnh lý cấp tính trong hồi sức; nghiên cứu nhóm bệnh chuyên sâu như Enzym, trị liệu, điều trị ung thư u nguyên bào thần kinh, nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân nhi.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Điển, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam chia sẻ về những tiến bộ y khoa trong chăm sóc bệnh nhi.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Điển, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam chia sẻ về những tiến bộ y khoa trong chăm sóc bệnh nhi.

Nhiều kỹ thuật nhi khoa tương đương với các nước trên thế giới

Là cơ sở nhi khoa đứng đầu cả nước, nhiều năm qua, Bệnh viện Nhi Trung ương đã triển khai nhiều kỹ thuật tiên tiến, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân nhi, cứu sống nhiều em nhỏ.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Điển, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam cho biết, trong năm 2023, bệnh viện triển khai 59 kỹ thuật mới, bao gồm 14 phẫu thuật, 22 kỹ thuật cận lâm sàng, 3 kỹ thuật điện quang can thiệp, 5 kỹ thuật gây mê/gây tê, 4 kỹ thuật y học cổ truyền, 11 kỹ thuật/thủ thuật mới khác, ghép gan cho 17 trường hợp, ghép thận cho 9 trường hợp; ghép tế bào gốc cho 27 trường hợp, can thiệp ECMO cho 125 trường hợp…

Nhiều kỹ thuật tại bệnh viện nhi như phẫu thuật tim hở, điều trị động kinh, ghép gan, thận... đạt chỉ số tương đương các nước trên thế giới.

Theo ông Trần Minh Điển, qua công tác khám chữa bệnh, các bác sĩ nhận thấy có sự thay đổi của mô hình bệnh tật. Một số bệnh truyền nhiễm vẫn đang tồn tại, một số tác nhân đang có xu hướng khó kiểm soát hết toàn bộ. Bệnh không lây nhiễm như bệnh lý mãn tính, bẩm sinh, di truyền có xu hướng gia tăng tương tự các nước phát triển, cần đặc biệt chú ý.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Điển cho biết đã có sự thay đổi mô hình bệnh tật, cần phải có đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng trẻ em Việt Nam và mô hình bệnh tật.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Điển cho biết đã có sự thay đổi mô hình bệnh tật, cần phải có đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng trẻ em Việt Nam và mô hình bệnh tật.

Theo bác sĩ Trần Minh Điển, hiện Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, Bệnh viện Nhi đồng 2 đang trao đổi những kỹ thuật khoa học, nhằm góp phần hỗ trợ cho công tác khám chữa bệnh trẻ em tốt hơn.

"Chúng tôi đang quan tâm nghiên cứu khoa học, thực trạng sức khỏe trẻ em Việt Nam. Chúng ta phải bắt kịp câu hỏi nghiên cứu xem bệnh nào chưa can thiệp được, chưa làm được hết như y văn thế giới. Từ đó, chúng tôi có được nghiên cứu phù hợp mô hình bệnh tật”, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam nói.

Ngoài ra, với đặt hàng của đơn vị liên quan đến nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm trên quốc tế, Bệnh viện Nhi Trung ương cũng là địa chỉ tin cậy để triển khai thử nghiệm lâm sàng. “Tới đây, chúng tôi tích cực thúc đẩy hơn nữa các nhà khoa học tạo sản phẩm có giá trị khoa học và thực tiễn, áp dụng khám chữa bệnh trong hệ thống nhi của toàn quốc", ông Điển cho hay.

Cần đánh giá tổng thể về sức khỏe và mô hình bệnh tật trẻ em Việt Nam

Sau 24 năm, kể từ khi Giáo sư Nguyễn Thu Nhạn có đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng trẻ em Việt Nam và mô hình bệnh tật (năm 2000), đến nay, vẫn chưa có một đề tài kế tiếp, trong khi mô hình bệnh tật đã có rất nhiều thay đổi.

Chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân bên lề Hội nghị nhi khoa nhân kỷ niệm 55 năm thành lập bệnh viện, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Điển cho rằng, Việt Nam đang cần một đánh giá tổng thể mới nhất, trong đó phải đánh giá cả 3 tiêu chí về sức khỏe.

Về sức khỏe thể chất, cần nghiên cứu được mô hình các bệnh tật, bệnh mãn tính, cấp tính.

Về sức khỏe tinh thần, cần có đánh giá tổng quan về tinh thần của trẻ em trước những tác động của thế giới mạng để có điều chỉnh phù hợp.

Về xã hội, nghiên cứu này cần đánh giá về điều kiện, môi trường sống, về sự quan tâm y tế, giáo dục cho trẻ em để phát huy quyền trẻ em trong tình hình mới.

Ngoài ra, các hệ thống các bệnh viện trên toàn quốc cần có những khảo sát, thống kê để tìm ra mô hình bệnh tật, từ đó, xác định quy trình kỹ thuật, áp dụng trong công tác khám chữa bệnh nhằm mục tiêu duy nhất là chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em Việt Nam.

Hiện thực hóa việc này, trong năm vừa qua, Bệnh viện Nhi Trung ương đã có 7 đề tài cấp Bộ, tập trung vào 2 nhóm thực trạng.

Đầu tiên, là các đề tài nghiên cứu nhóm bệnh lý lây nhiễm và bệnh lý cấp tính trong hồi sức, giải quyết các vấn đề về cấp cứu, hồi sức. Từ nghiên cứu này, các chuyên gia sẽ xây dựng quy trình kỹ thuật để chuyển giao cho các tuyến, giảm tải tình trạng bệnh nhân nặng tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

Hai là, bệnh viện cũng đẩy sâu nghiên cứu nhóm bệnh chuyên sâu như Enzym, trị liệu, điều trị ung thư u nguyên bào thần kinh để có được tỷ lệ sống và tỷ lệ sống ở trẻ chất lượng cao hơn.

“Chúng tôi mong Bộ Y tế phê duyệt cho đề tài và có kinh phí thực hiện đề tài”, Phó Giáo sư Trần Minh Điển bày tỏ.

Từ ngày 11-13/7, Hội nghị Nhi khoa, Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2024 được tổ chức nhằm kết nối cộng đồng các nhà khoa học, bác sĩ nhi khoa trong và ngoài nước để cùng nhau chia sẻ, cập nhật những thành tựu, tiến bộ trong điều trị, nghiên cứu, phát triển kỹ thuật cao, giúp hỗ trợ tốt nhất cho công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em. Nhiều báo cáo khoa học có giá trị được các chuyên gia nhi khoa trong và ngoài nước chia sẻ tại hội nghị.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.