Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm: 5 năm đồng bộ giải pháp phát triển rừng

Năm năm triển khai Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững 2021–2025, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực, không chỉ giúp giữ vững an ninh sinh thái, giảm sâu vi phạm lâm luật mà còn tạo sinh kế, thu nhập và lan tỏa mô hình phát triển bền vững cho cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng.

Cán bộ kiểm lâm Phạm Xuân Đảm điều khiển thiết bị flycam kiểm tra cháy rừng.
Cán bộ kiểm lâm Phạm Xuân Đảm điều khiển thiết bị flycam kiểm tra cháy rừng.

Nâng tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ an ninh sinh thái quốc gia

Trong hành trình bảo vệ “lá phổi xanh” của đất nước, Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021–2025 đã tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ, lan tỏa rộng khắp từ trung ương đến địa phương. Nhìn lại sau 5 năm triển khai, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết những kết quả nổi bật nhất đều gắn với các mục tiêu trụ cột của chương trình: nâng tỷ lệ che phủ rừng, tăng chất lượng rừng, gìn giữ đa dạng sinh học và đảm bảo an ninh môi trường.

Theo ông Lượng, nếu trở lại thập niên 1990, tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam chỉ ở mức khoảng 27%. Đến năm 2024, con số này đã đạt 42,03%, một bước tiến dài nhờ nỗ lực của toàn hệ thống chính trị và cộng đồng người dân gắn bó với rừng. Để duy trì và nâng cao chỉ số này, hằng năm cả nước trồng mới từ 230.000-260.000ha rừng, góp phần nâng diện tích rừng trồng gỗ lớn lên hơn 500.000 ha, tiến gần mục tiêu 1 triệu ha vào năm 2030.

Song song với việc mở rộng diện tích, chương trình cũng chú trọng nâng cao chất lượng rừng đặc dụng, rừng bảo tồn. Từ 30 vườn quốc gia trong nhiều thập niên, đến nay Việt Nam đã có 35 vườn quốc gia và một hệ thống 167 khu rừng đặc dụng, nơi lưu giữ nguồn gen thực vật, động vật, là “pháo đài tự nhiên” cho đa dạng sinh học. “Đây là những thành quả thể hiện rõ bước tiến trong ứng phó biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng môi trường và bảo tồn thiên nhiên" - ông Lượng nhấn mạnh.

Tăng sức mạnh bảo vệ rừng bằng chính sách và sự tham gia của cộng đồng

3-2629.jpg
Khuyến khích đồng bào tham gia trồng rừng cũng là bảo vệ rừng.

Một trong những chuyển biến quan trọng của giai đoạn 2021–2025 là thay đổi cách tiếp cận: lấy người dân, cộng đồng, các tổ chức xã hội làm trung tâm trong công tác bảo vệ rừng. Ông Phạm Hồng Lượng cho biết, nhờ các cơ chế mới, đặc biệt từ Nghị định 58/2024, nhà nước đã nâng mức khoán bảo vệ rừng, tạo động lực để người dân gắn bó với công việc tuần tra, trông giữ rừng.

So với mức 300.000 đồng/ha theo quy định cũ, hiện nay diện tích rừng thông thường được khoán 500.000 đồng/ha; rừng đặc dụng tăng từ 100.000 lên 150.000 đồng/ha. Các khoản hỗ trợ này bổ sung trực tiếp cho thu nhập của hộ dân, cá nhân và cộng đồng nhận khoán. “Người dân có thêm nguồn thu nhập, có lý do để giữ rừng, để tuần tra cùng kiểm lâm và chủ rừng Nhà nước. Chính họ tạo ra sức mạnh trong công tác bảo vệ rừng”, ông Lượng khẳng định.

Bên cạnh hỗ trợ ngân sách, lực lượng kiểm lâm còn vận dụng linh hoạt các giải pháp sáng tạo: trồng dược liệu dưới tán rừng, phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, dịch vụ văn hóa bản địa… như các mô hình tắm thuốc và trải nghiệm của đồng bào vùng cao Hà Giang, những mô hình thu hút đông đảo khách quốc tế, tăng thêm nguồn thu để người dân gắn quyền lợi với trách nhiệm giữ rừng.

Chi trả dịch vụ môi trường rừng, nguồn lực bền vững giúp rừng tự nuôi rừng

Một dấu ấn quan trọng khác của Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững là hệ thống chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Đây được xem là “cánh tay tài chính” giúp rừng có nguồn lực tự duy trì, giảm áp lực ngân sách và tăng giá trị từ hệ sinh thái.

Tiền DVMTR được chi trả bởi các nhà máy thủy điện, cơ sở cấp nước, cơ sở công nghiệp và các hoạt động du lịch hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng. Người dân, cộng đồng nhận khoán, chủ rừng và lực lượng bảo vệ rừng được hưởng trực tiếp nguồn thu này.

z7264612808840-c4b40eae14c34358020637475d082df3.jpg
Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) trong chuyến đi hiện trường rừng khu vực phía bắc.

Ông Lượng nhận định: “Nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành động lực mạnh giúp người dân bảo vệ rừng, đồng thời khuyến khích họ phát triển các mô hình kinh tế xanh gắn với sinh thái”.

Trong nhiều năm gần đây, các tỉnh có diện tích rừng lớn như Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La đã trở thành địa phương tiêu biểu trong việc sử dụng hiệu quả tiền DVMTR, biến nguồn thu này thành quỹ tuần tra, chi trả cho người bảo vệ rừng, hỗ trợ các tổ đội phòng cháy chữa cháy rừng và xây dựng hạ tầng phục vụ phát triển du lịch.

Tuyên Quang là tỉnh có tỷ lệ che phủ rừng cao và truyền thống gắn bó với nghề rừng, hiệu quả của Chương trình được thể hiện rõ rệt. Ông Đào Duy Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang cho biết, so với giai đoạn 2015–2020, tỉnh đã giảm 258 vụ vi phạm, tương đương 26,7%, trong tổng số 780 vụ của giai đoạn hiện tại.

Nếu như trước đây, đã từng có những vụ phá rừng nghiêm trọng kéo dài, khó xử lý, thì nay, ý thức người dân đã tiến bộ rõ rệt. Ai cũng hiểu rằng xâm hại rừng đều bị xử lý”, ông Tuấn nói.

Theo ông Tuấn, những kết quả đó đến từ 4 trụ cột chính: Sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, từ tỉnh đến xã, thôn bản, người dân đều nhận thức được trách nhiệm giữ rừng. Đổi mới phương thức quản lý, chuyển từ “xử lý khi xảy ra vụ việc” sang chủ động phòng ngừa, tăng cường tuần tra, kiểm soát theo kế hoạch. Ứng dụng công nghệ, dùng hệ thống cảnh báo cháy rừng, phát hiện mất rừng sớm bằng ảnh viễn thám giúp giảm chi phí và bù đắp thiếu hụt nhân lực. Dựa vào cộng đồng, sử dụng các tổ tuần rừng, tổ bảo vệ rừng, đội phòng cháy chữa cháy rừng của thôn bản và lực lượng nhận khoán, biến người dân thành “cánh tay nối dài” của kiểm lâm.

Không chỉ giảm về số lượng vụ vi phạm, tính chất các vụ cũng thay đổi. Phần lớn vụ việc hiện nay liên quan đến thủ tục hành chính, không gây thiệt hại lớn đến rừng. Điều đó cho thấy sự chuyển biến tích cực và rõ nét trong ý thức của cả cộng đồng.

Những con số, câu chuyện và chuyển biến từ thực tiễn 5 năm triển khai Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững đã cho thấy hiệu quả của hướng tiếp cận mới: Tăng diện tích và chất lượng rừng; Nâng cao thu nhập cho người dân nhận khoán; Tăng cường sự tham gia của cộng đồng; Phát huy hiệu quả chi trả dịch vụ môi trường rừng; Giảm sâu các vụ vi phạm, đổi mới lực lượng kiểm lâm.

Từ đồng bằng đến miền núi, từ cộng đồng bản địa đến lực lượng kiểm lâm, chương trình đã mở ra cách làm mới: để rừng tự nuôi rừng, để người dân cùng bảo vệ rừng, để rừng trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội và môi trường. Ngành lâm nghiệp vì thế không chỉ góp phần giữ màu xanh của Tổ quốc, mà còn đóng vai trò thiết yếu trong bảo vệ hệ sinh thái, phát triển nông thôn và xây dựng tương lai bền vững cho các thế hệ mai sau.

Có thể bạn quan tâm

(Ảnh minh họa: MINH DUY)

Thời tiết dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9: Nhiều nơi trên cả nước ngày nắng, xen kẽ những đợt mưa dông gián đoạn

Dự báo, dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 năm nay, thời tiết nhiều nơi trên cả nước nhìn chung nắng ráo, có lúc có mưa vài nơi. Cụ thể, Bắc Bộ và Thanh Hóa đến Hà Tĩnh có mưa dông gián đoạn, trong khi Trung Bộ nắng nóng gay gắt, có nơi trên 38 độ C; cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ mưa dông về chiều tối.

Công nhân chở rác tới trạm trung chuyển trước khi đưa đến khu vực xử lý. (Ảnh: QUANG QUÝ)

Đầu tư hạ tầng đồng bộ để phân loại rác tại nguồn hiệu quả

Muốn phân loại rác tại nguồn hiệu quả, hạ tầng thu gom, vận chuyển, xử lý phải được đầu tư đồng bộ; đồng thời, cơ chế kinh tế rõ ràng để tạo động lực cho các chủ thể tham gia. Đây là những vấn đề được đặt ra tại hội thảo “Phân loại rác tại nguồn: Đồng bộ hạ tầng-Thực thi hiệu quả”, diễn ra ngày 28/8 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Cán bộ Hạt Kiểm lâm liên phường, xã Bắc Ninh thu giữ chim hoang dã. (Ảnh: ĐH)

Thu giữ 200 con chim hoang dã

Hạt Kiểm lâm liên phường, xã Bắc Ninh chủ trì phối hợp Công an phường Kinh Bắc vừa tiến hành kiểm tra tại hộ gia đình ông Đỗ Văn Nam, tại tổ dân phố Yên Chung, phường Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh và tiến hành thu giữ 200 cá thể chim hoang dã bị nuôi nhốt trái phép.

Diễn tập ứng phó tình huống giả định sự cố bức xạ, hạt nhân đối với tình huống nguồn nước sinh hoạt của thành phố bị nhiễm phóng xạ. (Ảnh: Công Vinh)

Đà Nẵng diễn tập ứng phó sự cố nguồn nước sinh hoạt của thành phố bị nhiễm phóng xạ

Sáng 27/8, tại Nhà máy nước Cầu Đỏ (thành phố Đà Nẵng), Ban Chỉ huy ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân thành phố Đà Nẵng tổ chức diễn tập ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân cấp thành phố năm 2026 tình huống giả định “Ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân đối với tình huống nguồn nước sinh hoạt của thành phố bị nhiễm phóng xạ”.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Lóng Sập giúp hộ gia đình tại bản Bó Sập khắc phục hậu quả sạt lở đất. (Ảnh: QUÀNG HÙNG)

Bộ đội Biên phòng Sơn La giúp dân khắc phục sạt lở do mưa lớn

Mưa lớn kéo dài tại các xã biên giới tỉnh Sơn La đã gây sạt lở đất tại một số khu vực, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt người dân. Trước tình hình đó, Bộ đội Biên phòng Sơn La đã huy động cán bộ, chiến sĩ phối hợp chính quyền và lực lượng tại chỗ hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả, chủ động phòng ngừa nguy cơ mất an toàn.