“Chìa khóa” chuyển đổi số

Trong khu vực, Thái Lan là quốc gia đang thử “mở khóa” chương trình miễn viện phí cơ bản thông qua chuyển đổi số và hợp tác công-tư, và đã đạt được những thành tựu bước đầu đáng chú ý.

Trong dự án thí điểm "Nâng cấp UCS", dịch vụ nha khoa tại các phòng khám được người dân đánh giá cao.
Trong dự án thí điểm "Nâng cấp UCS", dịch vụ nha khoa tại các phòng khám được người dân đánh giá cao.

Ba trụ cột của bảo hiểm y tế toàn dân

Thái Lan nỗ lực xây dựng chương trình bảo hiểm y tế toàn dân dựa trên ba trụ cột: Gói quyền lợi, tuyến cơ sở và cơ chế chi trả. Một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank/WB) cho thấy Thái Lan đạt mức bao phủ khoảng 98% dân số. Chỉ số bao phủ dịch vụ y tế thiết yếu (chỉ số phản ánh mức độ người dân nhận được các dịch vụ cơ bản) đạt khoảng 82%.

Điểm mấu chốt nằm ở cấu trúc “ba chương trình” và cách nhà nước “mua dịch vụ” thay vì chỉ “bơm ngân sách”. Hệ thống của Thái Lan gồm: Chương trình phúc lợi y tế cho công chức, chương trình an sinh xã hội cho lao động khu vực chính thức và chương trình bảo hiểm y tế toàn dân cho nhóm còn lại.

Cú huých chính sách được triển khai vào giai đoạn 2001-2002, khi chính phủ mở rộng bảo hiểm y tế bằng quy định “Điều trị 30 baht ở bất cứ đâu”. Ban đầu, Chương trình Bảo hiểm Y tế Toàn dân (UCS) được khởi động với phương thức đồng chi trả, trong đó bệnh nhân chỉ trả 30 baht (khoảng 25 nghìn đồng) cho mỗi lần khám. Từ năm 2006, khoản phí trên được miễn trong nhiều trường hợp, khiến hầu hết dịch vụ y tế trở nên miễn phí hoặc được trợ cấp rất lớn, bao phủ tới hơn 45 triệu công dân Thái Lan.

Con số 30 baht không nói lên bản chất chính sách, mà quan trọng là cơ chế chi trả. Thái Lan tách bạch rõ “bên A” và “bên B”. Văn phòng An ninh Y tế Quốc gia (NHSO) đóng vai người mua dịch vụ thay mặt quỹ, ký hợp đồng với mạng lưới cơ sở y tế, rồi thanh toán theo phương thức tạo động lực tiết kiệm.

Với các bệnh nhân ngoại trú, họ áp dụng định suất theo đầu người (trả tiền theo số dân đăng ký và đặc điểm tuổi). Với khu vực nội trú, họ dùng phương thức thanh toán theo nhóm chẩn đoán dưới trần ngân sách (một cơ chế buộc bệnh viện phải kiểm soát chi phí theo tổng quỹ). Cách làm này vừa “siết” chi, vừa chuyển trọng tâm từ “làm nhiều dịch vụ” sang “làm đúng dịch vụ”.

Kết quả tài chính phản ánh rõ trong các chỉ số bảo vệ người dân khỏi tình trạng “nghèo vì bệnh”. WB ghi nhận tỷ lệ chi trả trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình trong tổng chi tiêu y tế đã giảm mạnh từ khoảng 34% (năm 2000) xuống khoảng 9% (năm 2019). Tỷ lệ hộ gia đình rơi vào “chi tiêu y tế thảm họa” (chi cho y tế vượt ngưỡng lớn trong tổng chi tiêu hộ) ở mức khoảng 2% (theo ngưỡng chi vượt 10% tổng chi tiêu).

Bước đột phá lớn

Theo Tổng Thư ký NHSO Jadej Thammatacharee, sau hơn hai thập kỷ hoạt động ổn định, hệ thống UCS đang thực hiện cuộc cách mạng trong năm 2024, khi chuyển đổi từ triết lý “điều trị mọi bệnh” sang “điều trị mọi nơi”. Nỗ lực này nhằm giải quyết hai vấn đề. Bệnh nhân UCS bắt buộc phải khám và điều trị tại cơ sở y tế đã đăng ký, cũng như cần giấy chuyển viện phức tạp nếu muốn thay đổi địa điểm. Bên cạnh đó, nhu cầu khám, chữa bệnh tăng nhanh khiến các cơ sở y tế công lập thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải, các bệnh nhân phải xếp hàng dài.

Đầu năm 2024, Dự án thí điểm “Nâng cấp UCS”, đã được khởi động tại 12 tỉnh, thành phố trên khắp Thái Lan. Với tên gọi “Điều trị 30 Baht ở bất cứ đâu chỉ với một thẻ căn cước”, người dân có thể bước vào mọi điểm tiếp nhận đủ điều kiện trên cả nước.

Không những vậy, NHSO và Bộ Y tế Thái Lan cũng muốn tận dụng dự án nhằm đồng bộ hóa và chia sẻ hệ thống cơ sở dữ liệu phân mảnh giữa bệnh viện với phòng khám. Điều đó không chỉ giúp họ theo dõi và hoàn trả chi phí cho nhà cung cấp y tế ở bất cứ đâu, mà còn cung cấp khả năng truy xuất hồ sơ bệnh án liên tục, qua đó giảm thiểu sự trùng lặp trong quá trình điều trị.

Để thực hiện nhiệm vụ ấy, NHSO chú trọng hợp tác với khu vực tư nhân (gồm các nhà thuốc, phòng khám điều dưỡng, phòng khám kỹ thuật y tế, phòng khám vật lý trị liệu, phòng khám nha khoa, phòng khám đa khoa và phòng khám y học cổ truyền Thái Lan...). Cơ quan này cũng chi trả toàn bộ chi phí và hoàn trả phí dịch vụ trực tiếp cho các đơn vị vận hành.

Sự hợp tác trên đã và đang tạo nên bước đột phá lớn. Giờ đây, người dân không nhất thiết phải xếp hàng chờ đợi mệt mỏi tại các bệnh viện công nữa. Phụ huynh có thể đưa con đến phòng khám tư nhân sau giờ học. Trẻ em không phải nghỉ học. Cha mẹ không phải xin nghỉ làm. Chi phí gián tiếp giảm. Một số người còn sửng sốt vì được điều trị mà không phải trả tiền.

“Tôi muốn nhắn nhủ với các đồng nghiệp: Có một số bước trong quá trình đăng ký, nhưng sau đó, khi hoàn tất và tham gia hợp tác, họ sẽ được NHSO hỗ trợ, bao gồm cả việc nhận được khoản thanh toán theo lịch trình. Phần mềm quản lý văn phòng không quá khó học. Lợi ích thu được so với chi phí đầu tư là hoàn toàn xứng đáng. Tôi mời mọi người cùng tham gia, vì điều này tốt cho tất cả các bên”, Tiến sĩ Adirek Watthana, Phòng khám Nha khoa Adirek tại tỉnh Phrae chia sẻ.

Hiện nay, Thái Lan có khoảng 7.000 phòng khám nha khoa tư nhân, trong đó 4.000 phòng khám nằm ngoài thủ đô Bangkok. Hội đồng Nha khoa Thái Lan đặt mục tiêu có 25% số phòng khám này tham gia thí điểm. Trong giai đoạn đầu, 106 phòng khám nha khoa tham gia. Hệ thống đã phục vụ khoảng 10.000 người, tương đương hơn 15.000 lượt khám, trung bình 1,5 lượt khám/người.

Bác sĩ Porat Youthai, chủ phòng khám nha khoa Porat tại tỉnh Sing Buri tiết lộ: Lượng khách của ông đã tăng 20%, kể từ khi tham gia chương trình Nâng cấp UCS. Đặc biệt, những bệnh nhân cao tuổi - (vốn “lười” khám răng vì rào cản đi lại và chi phí) cũng đã xuất hiện.

Tiến sĩ Thongchai Vachirarojpisan, Phó Chủ tịch Hội đồng Nha khoa Thái Lan tóm tắt: Thứ nhất, khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản của người dân được tăng lên, dẫn đến việc điều trị kịp thời. Thứ hai, các bệnh viện công có cơ hội tập trung hơn vào các trường hợp chuyên khoa và phức tạp. Thứ ba, các phòng khám tư nhân bước đầu được cộng đồng công nhận.

Rõ ràng, Thái Lan đã giải quyết bài toán miễn viện phí cơ bản nhờ bảo đảm quyền lợi của tất cả các bên và việc thúc đẩy người dân sử dụng thẻ căn cước ở những điểm chăm sóc ban đầu cũng chính là chìa khóa giải quyết vấn đề liên thông dữ liệu ■

Có thể bạn quan tâm

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.

TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Tối ưu hóa công cụ chính sách, khơi thông nguồn lực công-tư

Phát triển các công cụ chính sách mới, dựa vào cơ chế thị trường để huy động sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường là điều TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với NDCT.

Cần thúc đẩy mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp-Nông dân) theo chuỗi giá trị. (Ảnh Đạt Thành)

Doanh nghiệp tiên phong nắm lợi thế

Thể chế và hệ sinh thái về chuyển đổi số - xanh của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện cũng như chưa đủ mạnh để phát triển trên diện rộng. Để hóa giải tình trạng này, cần đồng bộ quá trình hoàn thiện thể chế và tài chính xanh, đi đôi hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, phát triển hạ tầng số.

Các hợp tác xã, tổ hợp tác, thông qua Chương trình FFF có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi để phát triển. (Ảnh FAO Việt Nam)

Ươm mầm sinh kế

Từ những mảnh vườn nhỏ ở Lào Cai, Thái Nguyên hay Phú Thọ, một mô hình mới đang dần hình thành: Nông nghiệp gắn với rừng, với thị trường, với cộng đồng và với tương lai dài hạn.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giúp minh bạch hóa dòng tiền, giảm thất thu thuế, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Cuộc đua tốc độ và bảo mật

Lời toà soạn - Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương hơn 14 nghìn tỷ USD.

Các hoạt động hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và phổ biến phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (QR code, chuyển khoản) được triển khai mạnh mẽ.

Hướng tới phát triển các hệ sinh thái số

Với tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong nhiều năm, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Dù mang lại nhiều tiện ích, việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn, bảo mật.