Trang chủ Trung du và miền núi Bắc Bộ Đồng bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long

Cần cơ chế đặc thù cho hạ tầng văn hóa

Với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới, nơi cộng cư của 12 dân tộc anh em, Sơn La đang đứng trước yêu cầu hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao theo hướng đồng bộ, thiết thực hơn.

Một sự kiện triển lãm được tổ chức tại Trung tâm Văn hóa, Thể thao tỉnh Sơn La. Ảnh: K.MINH
Một sự kiện triển lãm được tổ chức tại Trung tâm Văn hóa, Thể thao tỉnh Sơn La. Ảnh: K.MINH

Không chỉ là câu chuyện xây dựng công trình, đây còn là điều kiện để nâng cao đời sống tinh thần, gìn giữ bản sắc và gắn kết cộng đồng ở từng bản làng.

Hiện nay, 75/75 xã, phường của tỉnh Sơn La đã có nhà văn hóa hoặc trung tâm hội nghị được bàn giao lại từ cấp huyện, thành phố trước đây; 2.175/2.509 tổ, bản, tiểu khu có nhà văn hóa; 563 công trình đang sử dụng cho hoạt động thể dục, thể thao. Những công trình đã thật sự trở thành "linh hồn" của bản làng. Đây là nơi duy trì hoạt động của hơn 2.000 đội văn nghệ quần chúng và hàng trăm câu lạc bộ dân vũ, thể thao, góp phần cải thiện rõ rệt mức hưởng thụ tinh thần của nhân dân vùng cao.

Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, hệ thống này vẫn đang đối mặt với không ít rào cản. Cơ sở vật chất tại nhiều nơi còn đơn giản, thiếu đồng bộ do nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào sự đóng góp tự nguyện của người dân. Một thực trạng đáng quan ngại là sự thiếu vắng các thiết chế quan trọng mang tính biểu tượng và chuyên sâu như nhà hát, rạp chiếu phim, bảo tàng hay thư viện hiện đại.

Tại các vùng núi cao, việc bố trí quỹ đất đủ diện tích theo quy định là một bài toán khó. Đặc biệt, sau khi thực hiện chủ trương sáp nhập các bản, tiểu khu, quy mô dân số tăng lên nhanh chóng khiến nhiều nhà văn hóa trở nên quá tải, lỗi công năng và không đủ chỗ ngồi cho bà con sinh hoạt. Bên cạnh đó, hoạt động tại một số cơ sở vẫn còn đơn điệu, chủ yếu là hội họp, chưa thật sự thu hút được sự tham gia của đông đảo quần chúng. Đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở dù nhiệt tình nhưng còn phải kiêm nhiệm nhiều việc, dẫn đến chất lượng tham mưu và tổ chức hoạt động chưa phong phú.

Để các thiết chế văn hóa không rơi vào tình trạng “có vỏ, thiếu ruột”, nhiều ý kiến cho rằng Sơn La cần tiếp tục thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhưng phải có cơ chế phù hợp hơn với đặc thù miền núi. Các công trình văn hóa cần được nhìn nhận là thiết chế phúc lợi xã hội, phục vụ lợi ích chung, từ đó có chính sách hỗ trợ về vốn, đất đai, điện, nước và vận hành.

Bên cạnh đầu tư xây mới, cần rà soát toàn bộ hệ thống nhà văn hóa bản, tiểu khu, tổ dân phố và cấp xã sau sáp nhập để đánh giá đúng nhu cầu sử dụng. Nơi quá tải phải có phương án mở rộng, nơi hoạt động kém hiệu quả cần điều chỉnh cách quản lý, bổ sung trang thiết bị, đổi mới nội dung sinh hoạt. Sơn La cũng có thể thí điểm một số mô hình linh hoạt như kết hợp trung tâm văn hóa với trung tâm học tập cộng đồng, thư viện, không gian sinh hoạt thanh thiếu nhi hoặc giao cộng đồng, nghệ nhân, câu lạc bộ dân gian tham gia trực tiếp vào tổ chức hoạt động.

Về lâu dài, hạ tầng văn hóa chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với con người. Vì vậy, cùng với đầu tư công trình, tỉnh cần quan tâm hơn đến đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở, nghệ nhân, hạt nhân văn nghệ, huấn luyện viên thể thao quần chúng. Đây là lực lượng giữ cho nhà văn hóa có sinh khí, để mỗi công trình thật sự trở thành không gian sinh hoạt, sáng tạo và trao truyền văn hóa.

Phát triển thiết chế văn hóa không chỉ là xây dựng công trình, mà còn là xây dựng một không gian để mỗi người dân đều có quyền tiếp cận, hưởng thụ và sáng tạo, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc nơi biên cương Tổ quốc.