Thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia

Với hơn 30% số doanh nghiệp (DN) đã tham gia Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) thể hiện những lợi ích mà cơ chế này mang lại. Các DN đang kỳ vọng các bộ, ngành tiếp tục kết nối các thủ tục hành chính (TTHC) với NSW và xem DN là đối tác thật sự trong quá trình rà soát, sửa đổi các quy định liên quan.

Cục Hải quan Lào Cai đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính.
Cục Hải quan Lào Cai đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính.

Kỳ 2: Đột phá về cải cách thủ tục hành chính

Cải thiện cơ bản về môi trường kinh doanh

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) về môi trường kinh doanh (MTKD), năm 2017, thời gian thông quan trực tiếp tại cửa khẩu của Việt Nam đối với hàng xuất khẩu (XK) giảm 3 giờ (từ 58 xuống 55 giờ); Đối với hàng nhập khẩu (NK) giảm 6 giờ (từ 62 xuống 56 giờ); Chi phí thông quan trực tiếp tại cửa khẩu cho một lô hàng giảm 19 USD.

Thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, với trên 11 triệu tờ khai của năm 2017, DN tiết kiệm được hơn 200 triệu USD cho thủ tục thông quan; Tiết kiệm hơn 16 triệu giờ lưu kho đối với hàng XK (với 5,36 triệu tờ khai XK) và trên 34 triệu giờ lưu kho bãi đối với hàng NK (với 5,72 triệu tờ khai NK).

Theo Phó Tổng cục trưởng Hải quan Nguyễn Công Bình, việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia (NSW), một cửa ASEAN (ASW) đã được cộng đồng DN đánh giá cao. Nhiều DN bày tỏ mong muốn Chính phủ đẩy nhanh hơn nữa tiến độ, mở rộng phạm vi triển khai NSW. Điều này cho thấy lòng tin cũng như kỳ vọng rất cao của cộng đồng DN đối với sự cải cách về chính sách từ phía các cơ quan chính phủ. Các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển của Việt Nam như: WB, Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc... đã có những ghi nhận đáng kể đối với những cải cách của Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực này. Những nỗ lực cải cách của Chính phủ Việt Nam, trong đó có việc thúc đẩy NSW, ASW đã và sẽ phục vụ tốt hơn cho DN, góp phần cải thiện MTKD, đưa Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cũng theo báo cáo về MTKD của WB, trong vòng hai năm trở lại đây (2016, 2017), Việt Nam luôn giữ vững vị trí trong bốn quốc gia có chỉ số giao lưu hàng hóa qua biên giới đứng đầu trong khu vực ASEAN. Những kết quả này đã phản ánh nỗ lực cải cách TTHC của các cơ quan thuộc Chính phủ trong lĩnh vực giao lưu hàng hóa qua biên giới nói chung và triển khai NSW, ASW nói riêng.

Tại hội nghị quốc gia về “Thúc đẩy NSW, ASW và tạo thuận lợi thương mại (TTLTM)” diễn ra mới đây, đánh giá quá trình thực hiện TTHC trên Cổng thông tin NSW, TS. Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đoàn Duy Khương cho biết, theo kết quả khảo sát 1.039 DN của VCCI kết thúc vào tháng 12-2017, khoảng 30% DN cho biết đã thực hiện TTHC qua Cổng thông tin NSW. Đây là con số khá tương đồng với số liệu của Tổng cục Hải quan công bố về số lượng DN thực hiện TTHC qua Cổng thông tin NSW trong tổng số các DN có thực hiện hoạt động XNK. Chia theo nhóm DN, có thể thấy DN nhà nước có tỷ lệ thực hiện thủ tục trên Cổng NSW nhiều hơn cả, với 35%. Kế đến, là các DN dân doanh và DN có vốn đầu tư nước ngoài, lần lượt là 30% và 29%...

Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và XK thủy sản Việt Nam Nguyễn Hoài Nam thì cho biết, cộng đồng DN thủy sản ghi nhận những nỗ lực của Tổng cục Hải quan khi luôn đi đầu trong cải cách TTHC, công nghệ thông tin cũng như quá trình thực thi chính sách đã đáp ứng được chủ trương Chính phủ. Hiện nay, các DN đánh giá rất cao tác dụng cải cách TTHC.

Thậm chí, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư, còn cho biết, có những cải cách trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN), thủ tục được cắt giảm mà cộng đồng DN “mừng rơi nước mắt”.

Doanh nghiệp không còn là đối tác bị động!

Tuy nhiên, theo đánh giá của cộng đồng DN, trong quá trình thực hiện TTHC trên Cổng thông tin NSW, cũng gặp một số khó khăn như: Hiện nay, số thủ tục kết nối với Cổng thông tin NSW vẫn còn ít và do vậy chưa đáp ứng nhu cầu của các DN. Việc thực hiện TTHC tại các cơ quan nhà nước với mức độ thuận lợi, tương đối dễ và dễ vẫn còn chưa cao. Cao nhất là Bộ Tài nguyên và Môi trường (32%) và thấp nhất là Bộ Y tế (15%). Trong tổng số 12 bộ ngành được đưa vào để DN đánh giá về mức độ thuận lợi về việc thực hiện thủ tục KTCN cho thấy, các cơ quan thuộc Bộ Y tế có mức độ thuận lợi thấp nhất, 32,5% cho rằng TTHC là khó và tương đối khó; tiếp đến là Bộ Công an 28,6%; Bộ Giao thông vận tải 26,6%...

Bên cạnh đó, các bộ, ngành vẫn cung cấp thêm văn bản giấy tờ ngoài quy định; hướng dẫn thực hiện thủ tục trên cổng thông tin chưa rõ ràng, thời gian xử lý hồ sơ dài hơn phương thức truyền thống. Đối với chính sách, pháp luật về KTCN, các quy định hiện diện ở quá nhiều văn bản, quy định phải KTCN với tất cả các lô hàng là không cần thiết… Để nâng cao hiệu quả thực chất khi thực hiện NSW, tạo điều kiện thuận lợi cho DN, các chuyên gia cho rằng, thời gian tới, các bộ, ngành cần tăng cường kết nối số lượng TTHC giải quyết qua Cổng NSW; tạo lập cơ sở dữ liệu điện tử liên thông giữa các bộ, ngành để giảm thiểu yêu cầu cung cấp hồ sơ trùng lặp giữa các bộ ngành đối với DN...

Ông Nguyễn Hoài Nam nhấn mạnh, thời gian tới các bộ, ngành cần có sự vào cuộc quyết liệt hơn nhằm cải cách các quy định trong lĩnh vực KTCN; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý và KTCN. Cùng với đó, cần chia sẻ thông tin giữa các cơ quan KTCN và cơ quan hải quan. Đặc biệt, về vấn đề sửa đổi các văn bản để tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, DN cảm nhận rằng, cơ quan chức năng vẫn “ngại” tham khảo ý kiến của các DN trong quá trình cắt giảm, sửa đổi quy định về thủ tục KTCN. Trong quá trình rà soát sửa đổi thông tư, văn bản, các bộ, ngành nên tạo điều kiện cho các DN cùng tham gia ý kiến rộng rãi. Khi ban hành văn bản, các cơ quan cầu thị hãy xem DN là đối tác chứ không chỉ là đối tượng bị tác động.

Hướng tới môi trường điện tử “phi giấy tờ”

Theo Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng, NSW là công cụ hữu hiệu đối với các cơ quan của Chính phủ, DN, các nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực thương mại trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện các TTHC, tiến hành các giao dịch thương mại thông qua phương thức điện tử. Hơn nữa, NSW cũng được coi l à một trong những trụ cột quan trọng trong thuận lợi hóa thương mại, bảo đảm khả năng hội nhập cho DN vào nền kinh tế toàn cầu. Việc triển khai NSW thể hiện cam kết của Việt Nam trong thực hiện ASW nhằm kết nối các quốc gia thành viên, bảo đảm giao lưu hàng hóa trong khu vực. Nếu coi NSW là công cụ thực thi thì việc cải cách chính sách, thể chế liên quan đến công tác quản lý chuyên ngành (QLCN) và KTCN đối với hàng hóa XNK lại là nút thắt đối với DN trong thực hiện TTHC thuộc các lĩnh vực QLCN của các bộ, ngành. Do đó, chỉ khi các bộ QLCN cải cách một cách thiết thực công tác quản lý, KTCN thì NSW mới có thể phát huy tối đa hiệu quả quản lý.

Để hoàn thành mục tiêu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề ra, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho rằng, cần có sự chung tay của tất cả các bộ, ban, ngành, sự đóng góp của cộng đồng DN, các bên liên quan hưởng lợi ích từ cải cách mang lại. Mong muốn các bộ, ban, ngành tiếp tục phối hợp tích cực hơn nữa với Bộ Tài chính; Các DN tích cực, chủ động hơn nữa trong đóng góp, phản biện, tham vấn trong quá trình xây dựng chính sách...

Bên cạnh lợi ích đối với DN, việc triển khai NSW cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN), giúp các cơ quan QLNN làm quen và dần chuyển đổi sang thực hiện TTHC trên môi trường điện tử phi giấy tờ và có nhiều kinh nghiệm hơn trong đơn giản hóa, cải cách, hiện đại hóa TTHC. Nhờ đó, xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN, của nền kinh tế, cũng như nâng cao hiệu quả QLNN...

Theo ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, ở Việt Nam, chi phí thương mại khá lớn. Xét cụ thể, trong thời gian NK, việc tuân thủ KTCN chiếm tới 76 giờ, trong khi việc tuân thủ tại cửa khẩu là 56 giờ. Thời gian XK, việc tuân thủ KTCN là 50 giờ trong khi việc tuân thủ tại cửa khẩu là 55 giờ. Tất cả các chỉ số đều cơ bản thấp hơn trung bình của ASEAN 4. Đối với NK, thời gian tuân thủ KTCN là lớn nhất, chiếm tới 55%. Còn đối với XK thời gian xếp dỡ và lưu kho tại cảng là lớn nhất, với 44%. Những vấn đề này ảnh hưởng đến hoạt động của DN, nhất là trong lĩnh vực XK, vì lĩnh vực này phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu NK. Do vậy, cần ưu tiên cắt giảm thời gian và chi phí NK.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm