Cùng dự có các đồng chí: Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao; Bùi Thanh Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ. Hội nghị được truyền trực tuyến tới các tỉnh, thành phố trên cả nước.
Kết luận Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, việc ký kết, thực hiện các cam kết quốc tế luôn được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Mới đây, ngày 24/12/2025, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 56-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ký kết, thực hiện các cam kết quốc tế. Những thỏa thuận, cam kết quốc tế chúng ta ký kết thành công thời gian qua có ý nghĩa hết sức quan trọng, là minh chứng sống động, kết quả cụ thể của hoạt động đối ngoại, “cân, đong, đo, đếm” được; vừa là công cụ để mở rộng, tăng cường quan hệ với các nước và đối tác, tham gia ngày càng sâu rộng vào tiến trình hội nhập quốc tế, vừa góp phần huy động hiệu quả các nguồn lực, hướng tới thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của đất nước.
Về các kết quả nổi bật trong việc ký kết, triển khai các cam kết, thỏa thuận trong các hoạt động đối ngoại cấp cao thời gian qua:
Giai đoạn 2021-2025, các bộ, ngành đã hết sức nỗ lực hoàn thành khối lượng công việc lớn. Trong cả nhiệm kỳ, chúng ta đã ký kết hơn 900 cam kết, thỏa thuận, trong đó: Nâng cấp quan hệ với 24 nước; đến nay, số lượng đối tác có quan hệ từ mức Đối tác toàn diện trở lên là 42 nước; chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, trong đó có toàn bộ các quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Lần đầu tiên Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Bên cạnh việc đa dạng hóa về lĩnh vực, nội dung các cam kết, thỏa thuận ngày càng bám sát và gắn kết trực tiếp với những ưu tiên chiến lược của đất nước ta (như khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển bền vững…) cũng như các vấn đề chuyên sâu, cụ thể (như thành lập trung tâm tài chính quốc tế, phát triển ngành bán dẫn…). Chủ thể ký kết được mở rộng từ Chính phủ, các bộ, ngành sang các địa phương và một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, thể hiện mức độ thực chất, tính cơ động ngày càng cao trong triển khai hợp tác.
Trong nhiệm kỳ vừa qua, Việt Nam đã ký thêm 2 FTA với UAE và với Israel, góp phần đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt kỷ lục 930 tỷ USD, so với mức 545 tỷ USD của năm 2020. Tình hình triển khai có những tiến bộ vượt bậc: Các cam kết, thỏa thuận được tập trung thực hiện hiệu quả sau khi được ký kết, cơ bản không còn tình trạng “ký xong để đấy” hoặc các dự án tồn đọng kéo dài; Rút ngắn đáng kể thời gian từ khâu ký kết đến khâu thực hiện; Nâng cao ý thức, nhận thức về công tác ký kết quốc tế, quán triệt mạnh mẽ tinh thần “đã nói là làm, đã cam kết là phải thực hiện, đã thực hiện là phải có kết quả”, vừa phục vụ lợi ích của ta và đối tác, vừa đảm bảo uy tín của đất nước. Ví dụ tiêu biểu: Ngày 19/12/2025, dự án thành phần 1 thuộc Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng đã chính thức được khởi công đồng loạt tại nhiều địa điểm, gồm Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Hưng Yên và Hải Phòng, được các bạn Trung Quốc đánh giá là nhanh hơn 1,5-2 năm so với các dự án tương tự của Trung Quốc hợp tác với các nước ASEAN.
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng hoan nghênh, đánh giá cao nỗ lực của các Bộ, ngành, cơ quan, địa phương, nhất là Bộ Ngoại giao; đồng thời nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng những thành tích, kết quả quan trọng các bộ, ngành đã đạt được trong công tác ký kết, triển khai các cam kết, thỏa thuận thời gian qua.
Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận, việc triển khai các cam kết, thỏa thuận quốc tế vẫn còn 3 hạn chế, vướng mắc chủ yếu, cụ thể:
Vướng mắc trong khâu ký kết: Nhận thức về tầm quan trọng của việc ký kết các cam kết, thỏa thuận có nơi còn chưa thực sự sâu sắc, dẫn đến công tác chuẩn bị chưa kỹ lưỡng, đầy đủ; chất lượng các cam kết, thỏa thuận chưa cao, còn thiếu những nội dung cụ thể, khả thi, có thể triển khai ngay.
Vướng mắc trong khâu triển khai: do sự khác biệt trong thể chế chính trị, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, bộ máy giữa ta và các nước. Đây là thực tế khách quan, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hơn, quyết liệt hơn ngay từ khâu nghiên cứu, ký kết và chủ động trong trao đổi, tháo gỡ trên tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”.
Vướng mắc trong khâu giám sát: do chúng ta chưa có cơ chế hoặc hệ thống theo dõi tổng thể để cập nhật tình hình thường xuyên, rà soát để kịp thời tháo gỡ, xử lý các khó khăn, vướng mắc, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan chủ trì.
Những vướng mắc này vừa có mặt khách quan, liên quan đến việc triển khai của các đối tác nhưng có nhiều mặt chủ quan, xuất phát từ phía chúng ta.
Trên cơ sở những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc, chúng ta rút ra 3 bài học kinh nghiệm sau: kiên định đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế thực chất và hiệu quả. Tập trung ký kết và thực hiện thật tốt, ký kết để vươn lên, mạnh lên, phát triển. Cam kết phải phù hợp luật pháp Việt Nam, thông lệ quốc tế, khả thi, phải bố trí nguồn lực; nhìn xa trông rộng, nghĩ sâu làm lớn. Cam kết phải dựa vào nội lực, tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của đất nước.
Với tinh thần đó, Thủ tướng nhấn mạnh 5 yêu cầu: Phải xây dựng cơ chế đo lường cụ thể bằng KPI để đánh giá tình hình ký kết, triển khai các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Phải kịp thời có báo cáo giải trình với các cấp có thẩm quyền về tình hình thực hiện các cam kết quốc tế, nhất là trong những trường hợp gặp khó khăn, vướng mắc. Phải có cơ chế rà soát thường xuyên, liên tục, bao trùm, toàn diện về tình hình thực hiện cam kết quốc tế (hằng tháng và hằng quý). Phải xác định thứ tự ưu tiên để bố trí nguồn lực. Phải đẩy mạnh phối hợp giữa các bộ, ban, ngành.
Về phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới, Thủ tướng nhấn mạnh thêm một số nội dung sau:
Một là, quán triệt và triển khai hiệu quả, đồng bộ các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về đối ngoại, hội nhập quốc tế; các quyết sách mang tính đột phá của Bộ Chính trị mới ban hành, đặc biệt là Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và Chỉ thị số 56-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ký kết, thực hiện các cam kết quốc tế.
Hai là, các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền quyết liệt rà soát các cam kết quốc tế đã ký kết, cá thể hóa trách nhiệm cá nhân để thực hiện.
Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu đối tác, thị trường, xu thế toàn cầu mới nổi, phát huy sức mạnh tổng hợp bên trong và bên ngoài; tăng cường thúc đẩy hợp tác, hướng vào những ưu tiên, đột phá, dư địa hợp tác lớn.
Bốn là, chủ động chuẩn bị nguồn lực đối ứng sẵn sàng cho việc ký kết và triển khai các cam kết, thỏa thuận. Tập trung xây dựng cơ chế, chính sách để thực hiện.
Năm là, chủ động, quyết liệt tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong khâu triển khai thực hiện.
Sáu là, tiếp tục phát huy hiệu quả cơ chế rà soát, đôn đốc triển khai các cam kết, thỏa thuận. Các bộ, ngành phải đôn đốc, hỗ trợ, kiểm tra lẫn nhau; tăng cường tự kiểm tra, tự giám sát.
Thủ tướng nhấn mạnh “không nói không, không nói khó, không nói có mà không làm”; coi trọng thời gian, trí tuệ, quyết đoán đúng lúc.