Nghệ nhân dệt the của làng nghề trăm tuổi

Nhắc đến các làng nghề ở Hà Đông (Hà Nội), nhiều người thường nghĩ tới làng lụa Vạn Phúc. Nhưng có lẽ ít ai biết, gần Vạn Phúc có một làng dệt lụa the vang danh không kém, sản phẩm chuyên dành cho các bậc vua chúa, gia đình quyền quý thuở xưa, từng được mang đi triển lãm ở nước ngoài, là món quà tặng trân quý, độc đáo. Đó là làng cổ La Khê (nay thuộc phường La Khê, quận Hà Đông).
Nghệ nhân Lê Đăng Toản bên khung cửi truyền thống, chuyên dệt lụa the thủ công. (Ảnh THẾ ĐẠI)
Nghệ nhân Lê Đăng Toản bên khung cửi truyền thống, chuyên dệt lụa the thủ công. (Ảnh THẾ ĐẠI)

Trong "tứ quý danh hương" (Mỗ-La-Canh-Cót) của vùng đất ven kinh thành Thăng Long xưa thì "La" chính là làng cổ La Khê. Lụa the La Khê được nhắc đầu tiên trong câu ca dân gian "The La, lĩnh Bưởi, chổi Phùng/ Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn". Ấy là ngày xưa! Bây giờ, qua bao thăng trầm của thời gian, nghề dệt the La Khê chỉ còn trong ký ức ít người. Tuy nhiên, may mắn vẫn có một nghệ nhân đau đáu với nghề xưa, gắng gỏi níu giữ nghề truyền thống. Đó là nghệ nhân Lê Đăng Toản.

Vàng son một thuở

Các bậc cao niên làng La Khê chia sẻ, cùng nằm trên trên mảnh đất ven chốn kinh kỳ, cùng làm nghề dệt..., nhưng nếu làng La Khê chuyên dệt the, sa màu, lụa vân... thì người dân làng Vạn Phúc lại chuyên dệt lụa gấm. Theo thư tịch cổ còn lưu lại: Làng La Khê được hình thành từ thế kỷ thứ 5, lúc đầu có tên La Ninh. Theo người xưa, "La" là lụa, "Ninh" là sự thịnh vượng, lâu bền.

Đến thế kỷ 15, làng La Ninh được đổi tên thành La Khê, tức là làng dệt lụa bên dòng sông nhỏ bởi đất làng do phù sa sông Ðáy, sông Nhuệ bồi đắp nên. Vùng đất ven kinh đô này vốn màu mỡ, thích hợp với nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ. Người dân dệt sồi, đũi phục vụ chốn kinh kỳ.

Theo chuyên gia phong thủy Tam Nguyên: La Khê vốn là vùng địa khí tốt. Đầu thế kỷ 17, có một số gia đình lưu lạc qua La Khê, thấy vùng đất này cây trái tốt tươi cho nên dừng chân lập nghiệp, dạy nghề dệt lụa cho dân làng. Từ đây, La Khê nức tiếng xa gần bởi các sản phẩm lụa với chất liệu nhẹ, thoáng, họa tiết cầu kỳ, tinh tế... phù hợp khí hậu nhiệt đới nóng ẩm.

Thuở ấy, có câu ca được nhiều người biết "The La, lụa Vạn, cải Canh/Nhanh tay em bán, ai sành thì mua…". Năm 1823, triều đình nhà Nguyễn từng ra sắc lệnh lập La Khê thành một xưởng dệt cho cung đình Huế, đồng thời cho cả làng được miễn đi lính để tập trung cho việc phát triển làng nghề. Thời vua Thiệu Trị, xưởng dệt làng La Khê được gọi là Chức tạo cục, hằng năm sản xuất, cung cấp cho triều đình theo định mức 600 tấm lụa sa màu.

Chợ Cầu Ðơ một tháng sáu phiên là nơi người dân trong làng mang các sản phẩm của mình ra bán buôn, để từ đó dòng vải lụa cao cấp này tỏa đi khắp đất nước. Đời vua Minh Mạng (1820-1841), có viên quan tên Trần Quý, tình cờ được tặng một mảnh gấm rất đẹp, liền mày mò nghiên cứu. Tìm được bí quyết trong cách dệt lụa gấm của người nước ngoài, khi trở về làng, ông bèn cùng một số thợ trong làng cải tiến việc dệt.

Nhóm thợ làng La Khê đã dệt được những mảnh lụa gấm với hoa văn tinh xảo không kém mảnh gấm mẫu. Từ đó, làng La Khê có thêm nghề dệt gấm, Trần Quý trở thành ông tổ dệt gấm của làng. Nghề dệt lụa ở La Khê phát triển mạnh, không những cung cấp cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang châu Âu, sản phẩm lụa the La Khê được người Pháp rất ưa thích...

Nghìn năm canh cửi...

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, vài chục năm cuối thế kỷ 20, làng dệt truyền thống La Khê gần như mất dấu. Làng dệt nức tiếng một thuở chẳng còn ai mặn mà với nghiệp canh cửi, một phần cũng bởi lý do, lụa the là dòng sản phẩm cao cấp, không thể sản xuất đại trà.

Khoảng năm 2002, làng nghề dần được khôi phục nhờ tâm huyết của các bậc cao niên và chính quyền địa phương. Mọi người hy vọng vực dậy dòng lụa the trứ danh xưa. Hợp tác xã dệt lụa của làng ra đời, trở thành nơi các thế hệ trước trao truyền kinh nghiệm cho thế hệ sau.

Trong làng lại lách cách tiếng thoi đưa, những dải lụa the thương hiệu La Khê lại lộng lẫy hồi sinh. Nghệ nhân Lê Đăng Toản tham gia hợp tác xã với niềm phấn khích. Thực ra, trước đó cả chục năm, anh Toản đã có "duyên" với nghiệp canh cửi khi phụ trách kỹ thuật cho một xưởng dệt công nghiệp.

"Nhưng đó là vải công nghiệp, còn để làm ra những mét lụa the tinh xảo, phải dệt thủ công bằng khung gỗ truyền thống với bộ "go võng" độc đáo được "thửa" riêng. Cùng làm bằng nguyên liệu tơ tằm, nhưng nếu lụa Vạn Phúc mỏng, mềm, mặt được dệt kín thì lụa the La Khê lại dày nhưng xốp, tuy dệt thưa nhưng bề mặt tấm lụa lại rất chặt, sợi ngang sợi dọc vặn xoắn cầu kỳ, không bị "xô, trôi", tạo cảm giác thoải mái khi mặc. Trang phục bằng the bao giờ cũng có lớp vải lót bên trong...", nghệ nhân Lê Đăng Toản chia sẻ.

Vài năm sau, vì nhiều lý do, hợp tác xã không duy trì được nữa. Xưởng đóng cửa, xã viên tứ tán khắp nơi. Anh Toản ở lại làng xoay xở đủ nghề để lo toan cho gia đình.

Hằng ngày, qua xưởng dệt, người đàn ông ấy cứ bần thần. Anh thèm được nghe tiếng thoi đưa lách cách, thèm được lùa vào từng búp lụa để đón cảm giác mát lạnh nơi đầu ngón tay… Với nghệ nhân ấy, đó không phải là niềm tiếc nuối nữa mà là nỗi xót xa cho một làng nghề hơn 400 năm tuổi tưởng đã được hồi sinh nhưng lại bên bờ vực lụi tàn.

Sau vài ngày trăn trở, anh Toản quyết định sẽ gây dựng lại xưởng dệt, mặc dù chính anh còn chưa biết làm thế nào khi vốn liếng không có, trong làng chẳng mấy ai còn mặn mà với nghề, quan trọng hơn là sản phẩm làm ra thì bán ở đâu? May mắn, chị Thúy Quỳnh, vợ anh luôn hết lòng ủng hộ vì chị hiểu chồng, bởi chị cũng... trót yêu lụa the La Khê. Chồng dệt, vợ phụ cùng, khi hoàn thiện, lại tất bật tìm đầu ra cho sản phẩm.

Họ gần như đơn độc trên con đường mình đã dấn thân lựa chọn. Khó khăn, vốn liếng mỏng, đầu ra không có..., nhưng vẫn không mệt mỏi bằng khi phải nghe lời ra tiếng vào như: "Thời buổi này, ai còn mặc loại vải đấy nữa? Giờ người ta dệt bằng máy, vài tiếng được cả nghìn mét chứ cứ cọc cạch bên khung gỗ, ngày dệt được vài tấm lụa thì ăn thua gì?".

Gác lại những lời đó ngoài tai, vợ chồng anh Toản mê mải với công việc. "Nghề dệt the rất công phu, đòi hỏi người thợ phải tỉ mỉ, kiên trì. Vẽ hoa văn được coi là công đoạn khó nhất, bởi người vẽ phải tính toán từng đường nét sao cho cân đối. Khi hoàn thiện, tấm the mịn màng, phẳng phiu, không bị nhàu, bị nhăn. Mỗi mẫu phải mất vài tháng đến cả nửa năm mới xong. Máy dệt bán công nghiệp chỉ hỗ trợ được một phần, còn hầu hết là dệt bằng khung gỗ thủ công. Một thợ lành nghề chỉ dệt được từ 5 đến 7 m the trong một ngày, vì thế giá thành sản phẩm khá cao", anh Toản bộc bạch.

Cặm cụi làm, cặm cụi thiết kế mẫu mã mới hơn để bắt kịp xu hướng, đi chào hàng nhiều nơi, mang lụa the sang làng lụa Vạn Phúc gửi nhờ bán hộ..., sản phẩm của vợ chồng nghệ nhân Lê Quốc Toản bắt đầu được khách hàng biết đến, tìm mua. Dần dà, khách hàng tìm đến nhiều hơn, các nhà thiết kế đặt những mẫu riêng bởi họ bị sản phẩm thủ công độc đáo này chinh phục. Thời điểm nhiều đơn hàng, anh Toản thuê thêm 3-4 thợ.

Chị Thúy Quỳnh chia sẻ: Xưởng của gia đình hiện dệt được 9 loại lụa cổ như: lụa vân, sa ngũ phúc, sa nam, the hoa, quế, xuyến... Những loại lụa này được khách hàng mua để may cổ phục, áo dài truyền thống, may khăn làm quà tặng...Tuy nhiên, điều nghệ nhân Quốc Toản trăn trở là hiện nay hầu như không còn người trẻ nào mặn mà với công việc này. Tại La Khê, bây giờ chỉ còn mỗi gia đình anh theo nghề.

Cuối năm 2024, một gian trưng bày mang tên "The La- Ngàn năm canh cửi" được tổ chức tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Hà Nội). Những giá trị xưa cũ từng vang bóng một thời được tôn vinh. Các sản phẩm do vợ chồng nghệ nhân Lê Đăng Toản sắp đặt tại đây đã cuốn hút du khách.

Mọi người có cơ hội trải nghiệm khi tự tay dệt lụa với khung cửi gỗ, được ngắm các trang phục "thuần" the La Khê, trong đó có các bộ áo dài thiết kế tinh tế, lồng ghép họa tiết biểu tượng đặc trưng của Hà Nội như Khuê Văn Các, cột cờ Hà Nội, cầu Thê Húc, cầu Long Biên, chùa Một Cột trên chất liệu lụa truyền thống.

Anh Toản trải lòng: Mong muốn lụa the La Khê có cơ hội được xuất hiện nhiều hơn nữa. Làng La Khê vốn có di tích Bia Bà nổi tiếng. Vào dịp lễ, Tết, nơi đây thu hút rất đông du khách đến tham quan. Nếu địa phương xây dựng được tour du lịch tâm linh gắn với trải nghiệm nghề truyền thống thì lụa the La Khê chắc chắn sẽ được nhiều người biết đến hơn.

La Khê giờ đã thành một phường thuộc quận Hà Đông. Bóng dáng làng xưa gần như không còn. Những con phố bê-tông cao ráo sạch sẽ, những cửa hàng biển hiệu sáng choang, nhiều ngôi nhà 4-5 tầng nép mình bên các cao ốc chọc trời.

Thế nhưng, bên cạnh nhịp sống hối hả của cuộc sống hiện đại, trong một xưởng dệt nhỏ nằm bên con ngõ nhỏ ven giếng làng cũ kỹ, vẫn lách cách tiếng thoi đưa, vẫn có một nghệ nhân hằng ngày cặm cụi bên khung cửi, âm thầm lưu giữ những hồn cốt nghề truyền thống của cha ông trao truyền lại. Giữa ồn áo, náo nhiệt, âm thanh ấy có phần lạc lõng.

Tuy nhiên, nó vẫn mang đến chút lạc quan về một ngày mới cho lụa the La Khê, bởi vẫn còn nghệ nhân khắc khoải, tâm huyết với nghề, dệt nên những tấm lụa ấp iu hơi thở từ nghìn xưa…

Có thể bạn quan tâm

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

"Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau: Không thể bóp méo giá trị văn hóa bằng vỏ bọc "thương dân"

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.

Sinh viên tái hiện đám cưới Nam Kỳ xưa.

Vĩnh Long khơi dậy dòng chảy văn hóa dân tộc trong lòng thế hệ trẻ

Trường đại học Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long vừa tổ chức Chương trình  “Khoa thi Minh kinh bác học” lần thứ I năm 2026. Việc tái hiện không gian khoa bảng xưa và những nghi lễ truyền thống của vùng đất Nam Bộ ngay tại giảng đường không chỉ là sân chơi văn hóa, mà còn là hành trình bồi đắp lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.