Lần đầu tiên phẫu thuật nội soi trên cung mày cắt bỏ khối u ở tầng trước nền sọ

Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức vừa triển khai thành công phương pháp phẫu thuật nội soi qua đường rạch nhỏ trên cung mày để cắt bỏ khối u ở tầng trước nền sọ cho 2 bệnh nhân.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ thăm khám cho bệnh nhân sau phẫu thuật.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ thăm khám cho bệnh nhân sau phẫu thuật.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ, Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam và ASEAN cho biết, kỹ thuật này thuộc đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về phẫu thuật thần kinh ít xâm lấn, được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt, với mục tiêu cải tiến phương pháp điều trị, hạn chế tối đa xâm lấn và rủi ro cho bệnh nhân. Đây cũng là kỹ thuật lần đầu tiên được thực hiện thành công tại Việt Nam.

Phẫu thuật nội soi trong lĩnh vực thần kinh và sọ não phát triển muộn hơn so với các chuyên ngành khác như nội soi ngực, ổ bụng, gối hay khớp. Tại Việt Nam, kỹ thuật nội soi thần kinh bắt đầu từ năm 2003 với các can thiệp đơn giản như điều trị não úng thủy, sau đó dần mở rộng sang các kỹ thuật phức tạp hơn, đặc biệt là phẫu thuật nội soi nền sọ qua đường mũi.

Đây là một trong những hướng đi quan trọng trong nghiên cứu cấp nhà nước của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ, tập trung vào ứng dụng nội soi trong điều trị các bệnh lý thần kinh.

Bác sĩ Hệ cho biết, trước đây, để can thiệp các tổn thương nền sọ, bác sĩ thường phải mở rộng hộp sọ và sử dụng kính hiển vi. Một số trường hợp tổn thương tầng giữa có thể tiếp cận bằng nội soi qua đường mũi, nhưng phương pháp này không khả thi đối với những khối u có vị trí khó tiếp cận.

Giờ đây, với phương pháp mới, bác sĩ chỉ cần thực hiện một đường rạch nhỏ ở cung mày, đưa ống nội soi vào để hỗ trợ nguồn sáng, quan sát tổn thương và tiến hành phẫu tích, cắt bỏ khối u một cách chính xác.

Trong tuần qua, Bệnh viện Việt Đức đã thực hiện thành công hai ca phẫu thuật cắt u màng não ở tầng trước nền sọ bằng kỹ thuật này. Cả hai bệnh nhân đều có khối u nằm ngay trên trần hố mắt. Một bệnh nhân có khối u đường kính 1,8cm và một bệnh nhân có khối u gần 3cm. Cả hai ca phẫu thuật đều thành công, bệnh nhân phục hồi tốt.

Trước đây, nếu tiếp cận theo phương pháp kinh điển, bác sĩ phải mở hộp sọ rộng hoặc sử dụng kính hiển vi để phẫu thuật. Nhưng với phương pháp mới, toàn bộ quá trình được thực hiện bằng nội soi, giúp loại bỏ u hiệu quả mà vẫn bảo toàn tối đa các cấu trúc xung quanh.

Theo Phó Giáo sư Đồng Văn Hệ, trước đó, từ năm 2005, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã áp dụng kỹ thuật này nhưng sử dụng kính hiển vi. Chỉ trong thời gian gần đây, các bác sĩ mới thử nghiệm kết hợp nội soi trong một số công đoạn. Lần này, toàn bộ quá trình phẫu thuật được thực hiện bằng nội soi.

Kỹ thuật này có nhiều ưu điểm vượt trội như ống nội soi tiếp cận trực tiếp vị trí tổn thương với các góc nhìn linh hoạt (0 độ, 30 độ, 45 độ), giúp phẫu thuật viên quan sát rõ ràng toàn bộ vùng tổn thương mà không cần tác động nhiều vào nhu mô não.

Phim chụp MRI trước mổ (bên phải) và sau mổ (bên trái) cho bệnh nhân.

Phim chụp MRI trước mổ (bên phải) và sau mổ (bên trái) cho bệnh nhân.

Phương pháp này giảm thiểu tối đa nguy cơ biến chứng, tổn thương các dây thần kinh quan trọng như thần kinh thị giác, thần kinh khứu giác. Các bác sĩ thực hiện kỹ thuật không cần vén rộng tổ chức não, giảm tỷ lệ tổn thương mô lành.

Hệ thống ánh sáng nội soi giúp phẫu thuật viên quan sát tốt hơn so với kính hiển vi truyền thống, cho phép đánh giá chính xác ranh giới giữa khối u và mô lành.

Với phương pháp này, thời gian phục hồi nhanh hơn, bệnh nhân có thể xuất viện sớm và trở lại cuộc sống bình thường trong thời gian ngắn.

Với thành công bước đầu của kỹ thuật này, đây sẽ là một hướng đi mới trong phẫu thuật thần kinh ít xâm lấn, mở ra nhiều cơ hội điều trị an toàn và hiệu quả hơn cho bệnh nhân tại Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Ê-kíp các bác sĩ Bệnh viện K phẫu thuật cho người bệnh. (Ảnh: BVCC)

Phẫu thuật vi phẫu giúp bệnh nhân người Nga thoát nguy cơ liệt nửa người do u não lớn

Từ tình trạng u não kích thước lớn, nguy cơ liệt nửa người, nữ bệnh nhân E.L. (37 tuổi, quốc tịch Nga) đã phục hồi vận động sau phẫu thuật tại Bệnh viện K. Trường hợp này cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng kỹ thuật hiện đại trong điều trị các bệnh lý thần kinh phức tạp ngay tại Việt Nam.

Lãnh đạo Bệnh viện 19-8 chúc mừng bệnh nhân ra viện.

Hành trình vượt bạo bệnh của một người mẹ hiếm muộn mắc u lympho

Với chị N.T.T.H. (sinh năm 1989, ở Hà Đông, Hà Nội), hành trình được trở về nhà sau khi trải qua 9 năm hiếm muộn, mắc u lympho là một cuộc hồi sinh đầy kỳ tích. Dù chặng đường phía trước còn gian nan, nhưng với chỗ dựa là người con bé bỏng, niềm tin về cuộc sống trong chị H. chưa bao giờ mạnh mẽ đến vậy.

Nhân viên y tế nhập liệu hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân.

Tây Ninh đẩy mạnh số hóa, thu hút nhân lực y tế

Ngày 4/5, Sở Y tế tỉnh Tây Ninh thông tin, tính đến hết quý I/2026, toàn tỉnh đã tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử cho gần 3,1 triệu người, đạt tỷ lệ 96,94%, vượt xa mục tiêu đề ra. Song song đó, bệnh án điện tử đã được triển khai tại 4 bệnh viện, giúp giảm thiểu giấy tờ, nâng cao khả năng lưu trữ và chia sẻ dữ liệu y tế.

[Video] Sự thật về nhịn ăn trước khi chụp CT

[Video] Sự thật về nhịn ăn trước khi chụp CT

Liệu có cần nhịn ăn tuyệt đối trước khi chẩn đoán hình ảnh hay có khung giờ nào là tốt nhất để chụp chiếu hiệu quả tốt nhất? Hãy cùng nghe tư vấn từ Bác sĩ để giải đáp cho thắc mắc này.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Như Hải, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) hướng dẫn sinh viên về thực hành lâm sàng răng hàm mặt.

Đổi mới đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành y tế

Đào tạo bác sĩ nội trú cũng là một hệ đào tạo đặc thù của khối ngành sức khỏe. Trong bối cảnh cả ngành y tế cũng như giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, thì việc đào tạo đội ngũ nhân lực này cũng cần phải có những thay đổi.

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.