Khi nghề viết trở thành một cách sống

Nguyễn Nhật Ánh nhiều năm qua cũng sống khá lặng lẽ. Ông kín đáo, gần như để tác phẩm làm công việc của nó. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại khiến một điều trở nên rõ hơn: Giá trị của một nhà văn rốt cuộc không chỉ nằm ở mức độ xuất hiện của họ trong đời sống công chúng, mà quan trọng hơn ở những gì họ để lại trong đời sống của người đọc.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh trong buổi giao lưu, tặng chữ ký bạn đọc tại Hà Nội.
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh trong buổi giao lưu, tặng chữ ký bạn đọc tại Hà Nội.

Nơi bắt đầu của một thế giới văn chương

Gần nửa thế kỷ cầm bút, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cho thấy một đời văn có thể được xây dựng từ những điều tưởng như rất riêng: Ký ức, quan sát và trí tưởng tượng. Nhưng để biến những chất liệu ấy thành một thế giới văn chương có sức sống qua nhiều thế hệ, người viết cần một thái độ nghề nghiệp nghiêm cẩn. Qua hành trình sáng tác của mình, Nguyễn Nhật Ánh cho thấy sức bền của ngòi bút trước hết được tạo nên từ cách người viết sống với nghề.

Trong nhiều sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, tuổi thơ dường như luôn có một vị trí đặc biệt. Khi trực tiếp qua nhân vật, khi thấp thoáng trong một địa danh, một câu chuyện, một chi tiết, tuổi thơ trở thành một trong những nguyên liệu quan trọng làm nên thế giới nghệ thuật của ông. Nhưng nếu chỉ gọi đó là văn chương hoài niệm thì có lẽ chưa đủ. Ký ức trong sáng tác của ông là một thứ nguyên liệu được nhào nặn cùng quan sát đời sống và trí tưởng tượng để tạo thành thế giới riêng.

Nguyễn Nhật Ánh từng lý giải nguồn cảm hứng sáng tạo của nhà văn đến từ ba yếu tố: Một là đến từ kỷ niệm, ký ức. Hai là từ sự quan sát đời sống chung quanh. Ba là trí tưởng tượng. Ba yếu tố ấy, theo ông, thường không quá tách bạch mà nó trộn lại với nhau, tạo nên nguồn sáng tạo của nhà văn.

Với một nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi, thanh, thiếu niên, ký ức chiếm vị trí đặc biệt. Ông từng nói: “Có lẽ do tôi sống xa nhà từ nhỏ và tôi đã để tuổi thơ của mình ở lại sau lưng quá sớm”. Viết về tuổi thơ vì thế là một cách trở về, nhưng cũng là cách nhà văn đối thoại với chính quá khứ của mình. Thị trấn Hà Lam trong tác phẩm mới nhất của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, “Chuyện tình thị trấn” (NXB Trẻ, 7/2026), là một trường hợp như vậy.

Điều ấy giải thích phần nào sự hiện diện dai dẳng của tuổi thơ trong văn Nguyễn Nhật Ánh. Những nhân vật, cảnh đời, tình huống có thể bắt nguồn từ những gì ông từng gặp hoặc nghe kể, nhưng khi vào sách đã được chắt lọc, cấu trúc lại. Một chi tiết có thật không đồng nghĩa với một nhân vật là nguyên mẫu ngoài đời. Ông từng kể trong “Cô gái đến từ hôm qua“, chuyện nhân vật lấy bút vẩy mực lên áo dài của cô bạn mình thích là một chi tiết có thật; còn những cuộc tình éo le của các nhân vật nam lại không phải đời ông.

Bởi vậy, thế giới văn chương Nguyễn Nhật Ánh vừa gần gũi vừa không phải bản sao của đời sống. Người đọc nhận ra những con đường, ngôi làng, trò nghịch ngợm, những rung động đầu đời và cả những buồn vui rất đỗi quen thuộc, nhưng tất cả đã được chuyển hóa thành một thế giới nghệ thuật có giọng điệu riêng.

172.jpg
Nhiều tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh được yêu thích.

Kỷ luật chữ nghĩa: Nền tảng một đời văn

Nếu ký ức là nơi bắt đầu thì kỷ luật chính là thứ giúp thế giới ấy không ngừng được mở rộng. Sự nghiệp Nguyễn Nhật Ánh cho thấy một điều tưởng đơn giản nhưng không dễ thực hiện: Văn chương không chỉ cần cảm hứng, mà còn cần một đời sống lao động nghiêm túc.

Ông từng ví việc viết văn như “kiến tha lâu đầy tổ“. Mỗi ngày viết vài trang, ít hơn thì nửa trang, vài dòng; tích lũy từng chút một, đến một lúc mỗi năm có một cuốn sách. Với Nguyễn Nhật Ánh, viết không phải một công việc chỉ diễn ra khi cảm hứng xuất hiện. Nó đã trở thành một nhịp sống.

Khi được hỏi có khi nào mất cảm hứng và động lực sáng tác, nhà văn khẳng định “chưa bao giờ“. Bởi theo ông, “mình phải yêu nghề của mình, việc viết văn phải là đam mê và đã là đam mê rồi thì lúc nào mình cũng hứng thú với nó hết“. Niềm hạnh phúc lớn nhất của Nguyễn Nhật Ánh cũng rất giản dị: Được ngồi dưới mái nhà của mình, thong thả viết những trang văn mình thích.

Ở đây có một quan niệm đáng chú ý về nghề văn. Nguyễn Nhật Ánh không nhìn nhà văn như một người chỉ chờ cảm xúc đến, mà như một người lao động phải liên tục đọc, tích lũy và làm giàu công cụ của mình. Ông quan niệm: “Nhà văn ắt nhiên phải giỏi dùng chữ”, đồng thời cho rằng, muốn giàu chữ phải đọc hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn tờ báo; có chữ rồi lại phải biết dùng chữ, bởi “kiếm chữ thì dễ mà dùng chữ mới thiệt là khó“.

Đó cũng là lý do đằng sau cái gọi là “hiện tượng Nguyễn Nhật Ánh“ không chỉ có tài năng kể chuyện. Có một sức bền nghề nghiệp rất rõ ràng: Sách mới đều đặn xuất hiện, sách cũ vẫn liên tục được tái bản, độc giả vẫn tìm đến các buổi ra mắt, xếp hàng mua sách và xin chữ ký. “Chuyện tình thị trấn“ phát hành với 80 nghìn bản ngay lần in đầu, trong đó có 20 nghìn bản bìa cứng, là thí dụ mới nhất.

Con số ấy chỉ thật sự có ý nghĩa khi đặt cạnh một lịch sử xuất bản: “Cô bé hàng xóm và bốn viên kẹo” (2025), “Tiệm sách của nàng” (2024), “Mùa hè không tên” (2023) cũng đều in lần đầu 80 nghìn bản. Bên cạnh đó, những tựa sách xuất bản trước đó như “Kính vạn hoa”, “Mắt biếc”, “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”, “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”, “Tôi là Bêtô”... vẫn được tái bản và tiếp tục đến với những độc giả thế hệ mới. Một nhà văn có thể viết một cuốn sách bán chạy, nhưng để nhiều cuốn sách lần lượt tìm được độc giả qua hàng chục năm lại là câu chuyện khác. Nó đòi hỏi không chỉ tài năng mà cả khả năng duy trì chất lượng, nhịp viết và mối quan hệ lâu dài với người đọc.

Vì thế, nếu gọi Nguyễn Nhật Ánh là một trong những nhà văn chuyên nghiệp bậc nhất của văn học Việt Nam đương đại, đó không chỉ là một lời tán dương. Sự chuyên nghiệp ấy có thể nhìn thấy bằng chính cách ông làm nghề: Viết đều, đọc nhiều, trau dồi chữ nghĩa, giữ nhịp lao động và kiên trì với độc giả của mình.

Từ trang sách dành cho trẻ nhỏ, chữ nghĩa của ông còn đi vào âm nhạc. Bài thơ "Thành phố tình yêu và nỗi nhớ" được Nguyễn Nhật Ánh viết năm 1979, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn phổ nhạc ngay sau đó. Không cần gọi tên thành phố, bài hát vẫn trở thành một trong những ký ức âm nhạc gắn với TP Hồ Chí Minh của nhiều thế hệ.

Khi tác phẩm bước ra khỏi trang sách

Có một thước đo khác cho sức sống của Nguyễn Nhật Ánh: Tác phẩm của ông không dừng lại ở hiệu sách. Chúng đi vào nhà trường, âm nhạc, điện ảnh và tiếp tục sống trong ký ức của nhiều thế hệ.

Bài thơ "Khi trang sách mở ra", viết năm 1982, với những câu: "...Trong trang sách có biển/Em thấy những cánh buồm/Trong trang sách có rừng/Với bao nhiêu là gió/Trang sách còn có lửa/Mà giấy chẳng cháy đâu/Trang sách có ao sâu/Mà giấy không hề ướt..." được chọn vào sách giáo khoa "Tiếng Việt" của bộ "Kết nối tri thức với cuộc sống"; hay trích đoạn "Tôi là Bêtô" được đưa vào "Ngữ văn 6" của bộ "Kết nối tri thức với cuộc sống" là những thí dụ sống động cho thấy văn chương của Nguyễn Nhật Ánh đã bước vào nhà trường, đến với những thế hệ độc giả mới từ khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường.

Điện ảnh lại mở ra một ô cửa khác cho văn chương Nguyễn Nhật Ánh. “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh“, “Ngày xưa có một chuyện tình“, “Mắt biếc“, “Cô gái đến từ hôm qua“… đều đã được chuyển thể. Một số tác phẩm khác cũng đã được các đạo diễn “chấm chọn”. Như thế, hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh có thêm một vòng đời, với những diễn viên, đạo diễn và cách kể khác. Chính Nguyễn Nhật Ánh từng ví một tác phẩm được chuyển thể như “một món ăn được nấu lại bởi một đầu bếp khác, với kỹ thuật khác“. Nhà văn không kiểm soát hoàn toàn đời sống mới của tác phẩm, nhưng có thể chứng kiến nó tiếp tục được đọc, xem và diễn giải.

Những trường hợp như vậy đặt lại một câu hỏi đáng suy nghĩ về vai trò của nhà văn trong xã hội. Nhà văn không chỉ tạo ra những văn bản để đọc. Họ có thể tạo ra ký ức, hình thành những hình dung về tuổi thơ, về tình yêu, về con người; có thể góp phần gieo những hạt mầm đầu tiên của lòng nhân hậu và trí tưởng tượng nơi một đứa trẻ. Những tác động ấy thường diễn ra lặng lẽ, không phải lúc nào cũng có thể quy đổi thành một con số.

Có thể bạn quan tâm

Thử nghiệm vở diễn đầu tiên của dàn khí nhạc bản địa Đông Nam Á

Thử nghiệm vở diễn đầu tiên của dàn khí nhạc bản địa Đông Nam Á

Từ tháng 9, Dàn khí nhạc bản địa Đông Nam Á S.E.A Sound trình diễn thử nghiệm vở diễn đầu tiên mang tên “Thức“ tại Alluvium Centre (đường Đinh Tiên Hoàng, Ninh Bình). Khán giả có thể đăng ký thưởng thức miễn phí qua fanpage của dàn nhạc. “Thức“ là một trải nghiệm âm nhạc hoàn toàn mới, khí nhạc bản địa nhưng không hòa tấu dân ca, không hòa âm phối khí, không lời.

Những câu thơ “nợ màu nhớ nhung”

Những câu thơ “nợ màu nhớ nhung”

Nhà thơ Trương Minh Hiếu vừa cho xuất bản tập thơ lục bát “Thả gió qua sông” (NXB Văn học). Tôi tò mò: “Thả gió qua sông” là gì và Hiếu muốn nói gì với việc thả gió qua sông?

GS Anthony Burke thảo luận trực tiếp với nhà thiết kế Vũ Thảo của Kilomet 109, đại diện Trúc Chỉ và đại diện Vụn Art.

Thiết kế Việt lan tỏa trên kênh truyền hình Australia

1. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ công nghệ, câu hỏi “Thiết kế để làm gì?” không còn gói gọn trong tính thẩm mỹ hay công năng đơn thuần. Câu trả lời vừa được khắc họa qua lăng kính của GS, kiến trúc sư Anthony Burke (Australia) cùng một số nghệ sĩ, nhà sáng tạo Việt Nam.

Đồng bào đón Tết Độc lập tại Làng Văn hóa, Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ảnh: ANH QUÂN

Lan tỏa sức mạnh nội sinh văn hóa

Một tuần đón Tết Độc lập vừa đi qua, để lại nhiều thông tin quan trọng về các hoạt động văn nghệ tại nhiều nơi trên mọi miền đất nước, vừa góp phần đưa di sản và lan tỏa niềm tự hào dân tộc trong thế hệ trẻ, vừa thu hút bạn bè quốc tế đến du lịch, tham quan.

Cụ già đầu ngõ

Cụ già đầu ngõ

Bà già ngồi trước ngõ gần như suốt ngày. Sáng cũng thấy bà, chiều cũng thấy bà, có hôm tôi đi về quá mười giờ đêm vẫn thấy cái dáng nhỏ thó ấy ngồi trên chiếc ghế nhựa thấp, trước mặt là túi len, lúc nào bà cũng đan len. Tôi vẫn nghĩ nó là thói quen luôn chân luôn tay của lớp người thế hệ trước.

Các liveshow tầm trung thường rất khó để có doanh thu từ tiền bán vé và trông chờ phần lớn ở nhà tài trợ.

Nghệ sĩ Việt chật vật làm liveshow

Ở Việt Nam, để thực hiện một liveshow tầm trung trong một sân khấu ngoài trời hoặc nhà hát khoảng 600-1.000 chỗ ngồi thì tổng kinh phí đầu tư của nghệ sĩ hay nhà sản xuất dao động khoảng 3 đến 5 tỷ đồng. Đây là con số gần như là thách thức với bất kỳ nghệ sĩ nào nếu như không có nhà tài trợ hay nhãn hàng đồng hành.

Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, phát biểu giới thiệu nghị quyết.

Việt Nam khởi xướng Thập kỷ quốc tế về Văn hóa

Ngày 4/9, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 đã thông qua Nghị quyết phát động “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững”, tuyên bố giai đoạn 2027-2036 là Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững.

Hồn Tổ quốc khắc nên hình đất nước

Hồn Tổ quốc khắc nên hình đất nước

Sau 30 phút ngồi cabin cáp treo, chúng tôi lên tới “nóc nhà Đông Dương”. Ngắm nhìn và chụp ảnh mãn nguyện, chúng tôi lục tục giục nhau “xuống núi”. Ông Kim Lãm, người “tổ chức” nhóm lên đỉnh Phan Xi Phăng, xua tay vội vã: “Hôm nay là thứ 6. Điều đặc biệt sắp xảy ra”…

Ca sĩ Noo Phước Thịnh biểu diễn tại chương trình “Tổ quốc trong tim”. Ảnh: THÀNH ĐẠT

“Âm nhạc - phương tiện hữu hiệu lan tỏa vẻ đẹp Việt Nam”

Hơn một tuần sau đêm nhạc “Tổ quốc trong tim”, những dư âm và cảm xúc vẫn vẹn nguyên trong ca sĩ Noo Phước Thịnh. Trong không khí kỷ niệm 81 năm Ngày lập nước 2/9, anh chia sẻ về vai trò của âm nhạc, trách nhiệm người nghệ sĩ trong lan tỏa hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.

Nhận thức mới về “tài sản số”

Nhận thức mới về “tài sản số”

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số quốc gia và bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển kinh tế số, các yếu tố như dữ liệu số và tài sản số đang từng bước trở thành nguồn lực chiến lược. Dù vậy, khái niệm “tài sản số” hiện vẫn còn tương đối mới mẻ, dễ bị nhầm lẫn hoặc đồng nhất với tiền mã hóa đơn thuần. Sự thiếu hụt về thông tin đa chiều khiến không ít người tiếp cận lĩnh vực này với tư duy phong trào, tiềm ẩn nhiều rủi ro về pháp lý và tài chính.

Họa sĩ Nguyễn Bỉnh Sơn bên tác phẩm của mình.

“Lạ hóa” cây đa từ sơn mài truyền thống

Chắc tay với kỹ thuật sơn mài truyền thống, Nguyễn Bỉnh Sơn luôn hướng đến tìm tòi cách tạo hình, biểu đạt với những gam màu phá cách, khai thác tính mới lạ, độc đáo cho nghệ thuật sơn mài. Những cây đa của anh đủ màu sắc nhưng vẫn mang đến người xem sự đồng điệu hay đi xa hơn với những khung cảnh thiên nhiên mang tính biểu tượng.

Nơi nơi sáng đèn dịp lễ

Nơi nơi sáng đèn dịp lễ

Những ngày cuối tuần qua, chào mừng 81 năm độc lập, khắp ba miền cùng lúc diễn ra các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch. Tại Hải Phòng chiều tối thứ sáu (28/8), Lễ khai mạc Phố đi bộ, ẩm thực và các hoạt động phát triển kinh tế ban đêm diễn ra tại khu vực Dải vườn hoa Trung tâm và Nhà hát thành phố. Chương trình sẽ diễn ra vào tối thứ 6 và thứ 7 hàng tuần, mang đến cho người dân, du khách những trải nghiệm đặc sắc khi đến với thành phố Cảng.

Các biển hiệu mang nhiều thứ tiếng trên một tòa nhà. Ảnh: K.MINH

Giữ tên tiếng Việt thế nào trong Hà Nội đô thị hóa và hội nhập?

Ngôn ngữ quốc tế đã trở thành một thành tố đáng kể trong cách đặt tên các không gian ở mới của Hà Nội. Nhưng phía sau những cái tên ấy không chỉ là câu chuyện về tiếng Anh hay tiếng Việt. Đó còn là câu chuyện về cách một thành phố đang mở rộng, thay đổi và tạo ra những lớp địa danh mới.

Các em thiếu nhi tham gia chương trình “Trở về thời khắc thiêng liêng” tại Hội trường Thống Nhất. Ảnh: KHÁNH HIỆP

Chạm vào lịch sử

Công nghệ cùng cách trình chiếu, sắp đặt, trưng bày sáng tạo đã đưa khách thưởng lãm hòa vào những thời khắc đáng nhớ của lịch sử.

Thịt luộc mắm tép. Ảnh: SONG ANH

Mắm tép

Mâm cơm có thêm bát mắm tép. Vị ngọt thanh xen lẫn chua nhẹ vừa chạm đầu lưỡi. Đĩa rau muống luộc xanh mướt, bốc lên làn khói mỏng.

Nhóm bạn văn trẻ Gia Lai trong lần ra mắt sách của nhà thơ Lê Vi Thủy.

Tình bằng hữu trợ lực trên đường văn

Trong các nhóm bạn văn chương, ngoài việc chia sẻ những thông tin hữu ích cùng nhau còn là việc giúp nhau, xây dựng, góp ý để có thể có những kỹ thuật viết tốt hơn cũng như có những bài viết hay hơn. Người đi trước sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, động viên những cây bút mới, tạo nên một môi trường sáng tạo lành mạnh, nơi tài năng được khích lệ và lòng yêu văn học được nuôi dưỡng.

Các diễn viên của bộ phim trong buổi báo cáo ra mắt phim ngày 22/8 tại Ninh Bình.

Từ chuyện phim giản dị đến cảnh đẹp, võ thuật ngoạn mục

Miền thắng tích Ninh Bình cho thấy sức hút với nhiều nhà làm phim qua một số bộ phim từng gây chú ý như “Khát vọng Thăng Long”, “Thiên mệnh anh hùng”, “Kong: Đảo đầu lâu”… Bộ phim về những tráng sĩ bảo vệ linh cữu vua Đinh sắp công chiếu sẽ tiếp tục gợi mở về tiềm năng sáng tạo dồi dào ở “phim trường danh thắng” này.

TS Nguyễn Thị Hậu (bên trái) tham gia ban cố vấn Dự án Heritage Ho Chi Minh City của Hội Di sản Văn hóa TP Hồ Chí Minh.

Càng thay đổi nhanh, nhu cầu tìm lại cái đã mất càng lớn

Di sản văn hóa TP Hồ Chí Minh là nguồn “tài sản” giàu tiềm năng kinh tế cho sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa cũng như xây dựng giá trị con người trong thời đại mới. TS Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử thành phố, nguyên Phó Viện Trưởng Nghiên cứu phát triển thành phố chia sẻ với Thời Nay về việc thế hệ trẻ đang lan tỏa giá trị của di sản theo ngôn ngữ của mình.