Khám phá tranh kiếng Nam Bộ qua trang sách

Tác giả Huỳnh Thanh Bình có nhiều bài viết và đầu sách nghiên cứu về văn hóa; trong đó, tác phẩm “Tranh kiếng Nam Bộ: Nghệ phẩm của mọi nhà” thu hút độc giả bởi những thông tin thú vị về một dòng tranh dân gian của vùng đất phương nam được nhiều người yêu thích.

Bìa cuốn sách “Tranh kiếng Nam Bộ-Nghệ phẩm của mọi nhà” của tác giả Huỳnh Thanh Bình. (Ảnh QUỲNH MY)
Bìa cuốn sách “Tranh kiếng Nam Bộ-Nghệ phẩm của mọi nhà” của tác giả Huỳnh Thanh Bình. (Ảnh QUỲNH MY)

Tranh kiếng có mặt ở cung đình Huế từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị; song đó là các sản phẩm mỹ nghệ nhập khẩu và không phổ biến ngoài dân chúng. Đến đầu thế kỷ XX, những di dân Quảng Đông (Trung Quốc) đến lập nghiệp ở vùng Chợ Lớn bắt đầu mở các tiệm kiếng, buôn bán các loại kiếng tráng thủy để soi mặt, lắp tủ, khung cửa chớp, cửa gió..., cùng các loại tranh kiếng như những bức đại tự, thư họa dùng trong việc khánh chúc tân gia, khai trương, mừng thọ… Tranh kiếng Nam Bộ ra đời từ đây. Đến những năm 1920, nghề vẽ tranh kiếng chuyển địa bàn về Lái Thiêu, Thủ Dầu Một. Sau đó, khoảng những năm 1940-1950, nghề làm tranh kiếng lan tỏa khắp lục tỉnh Nam Kỳ.

Tác giả Huỳnh Thanh Bình chia sẻ, khi còn nhỏ, nhìn thấy những bức tranh kiếng vẽ ông địa mà ba (nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng) sưu tầm treo ở nhà, chị đã rất thích. Nhưng mãi đến năm 2006, đọc được bài viết của nhà sưu khảo cổ vật Lý Lược Tam về tranh kiếng (du họa) trong “Văn hóa và nghệ thuật người Hoa Thành phố Hồ Chí Minh” do Trung tâm Văn hóa thành phố thực hiện thì chị thấy tranh kiếng là một loại nghệ phẩm chứa đựng nhiều nội dung của cuộc sống văn hóa, tâm linh. Tác giả Huỳnh Thanh Bình cho biết: Một trong những đặc điểm làm tôi lưu tâm là cách vẽ ngược của loại tranh kiếng. Trong quá trình tìm tòi, được sự giúp đỡ tận tình của bác Lý Lược Tam và các nghệ nhân vẽ tranh kiếng, các nghệ nhân Khmer Trà Vinh, Sóc Trăng (cũ), tôi bị lôi cuốn vào sự đa dạng và phong phú về kỹ pháp, thể loại, đề tài của loại hình tranh kiếng.

Những bài viết nghiên cứu về các hình tượng, thể loại tranh kiếng cũng được hình thành và trên cơ sở đó, sách “Tranh kiếng Nam Bộ” ra đời nhân cuộc triển lãm tranh kiếng Nam Bộ diễn ra vào dịp lễ Vu Lan tại chùa Phật học xá lợi vào năm 2013. Tập sách chỉ sơ lược một số dòng tranh kiếng như tranh kiếng Chợ Lớn, Lái Thiêu, Mỹ Tho, Gò Công, Chợ Mới, Khmer và điểm qua những nét tiêu biểu của các dòng tranh này. Không dừng lại, nữ tác giả tiếp tục đi sâu tìm hiểu về các thể loại, kỹ thuật tạo tác tranh kiếng Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng như so sánh, đối chiếu về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của dòng tranh kiếng Khmer với các dòng tranh kiếng khác ở Nam Bộ để hoàn thành luận văn cao học “Tranh kiếng trong văn hóa Khmer Nam Bộ” năm 2019.

Cuối năm 2025, sách “Tranh kiếng Nam Bộ: Nghệ phẩm của mọi nhà” (Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh phát hành) ra đời đã cung cấp, bổ sung cho bạn đọc, những người yêu mến mỹ thuật dân gian của vùng đất phương nam những thông tin đầy đủ và chi tiết hơn về nguồn gốc, lịch sử không chỉ của tranh kiếng Nam Bộ mà còn phổ quát tranh kiếng của các nước trên thế giới. Cuốn sách cũng đề cập những đặc điểm của tranh kiếng Nam Bộ nói chung cũng như của các dòng tranh kiếng đã và đang có mặt trong đời sống văn hóa Nam Bộ, các nghệ nhân và cơ sở tiêu biểu.

Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, tranh kiếng ngày nay đã có sự thay đổi ít nhiều so với trước đây về kỹ thuật và tạo hình. Từ chỗ dùng bột màu trộn với dầu, sau đó tranh kiếng Nam Bộ đã sử dụng các loại sơn công nghiệp. Việc dùng bột ốc cùng với các mảnh xà cừ để “cẩn” lên tranh đã tạo nên loại tranh kiếng độc đáo, phản chiếu ánh sáng lấp lánh, huyền ảo. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào tranh kiếng sớm nhất là kỹ thuật tráng thủy, kế đó là việc sử dụng các loại giấy trang kim, các phụ kiện sao nháy, mắt gà; gắn mạch điện và đèn chớp tắt tạo nên hào quang và sự sinh động tân kỳ cho tranh kiếng. Trong vài chục năm gần đây, các nghệ nhân đã chuyển đổi từ cách vẽ thủ công sang kỹ thuật kéo lụa tiên tiến, thậm chí có cả loại in 3D lên trên kiếng.

“Về mặt tạo hình, tranh kiếng cũng có những thay đổi. Các nghệ nhân do ảnh hưởng của hội họa hiện đại đã sử dụng kỹ thuật vờn màu đậm nhạt để tạo khối; thậm chí có nghệ nhân đã biết xử lý ánh sáng, áp dụng luật viễn cận để tạo nên những bức tranh thoát khỏi khuôn mẫu của hình họa 2D truyền thống”, tác giả Huỳnh Thanh Bình chia sẻ. Bên cạnh đó, việc áp dụng kỹ thuật vẽ tranh kiếng để tạo nên những sản phẩm mỹ nghệ mới như chân đèn, lư hương, kỷ thờ bằng kiếng trang trí hoa lá cho thấy sự đổi mới về loại hình sản phẩm từ tranh kiếng ra các vật dụng làm bằng kiếng.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của tranh kiếng hiện nay là thị hiếu và chọn lựa của công chúng ngày càng đa dạng hơn trước. Ngoài tranh kiếng người ta còn hướng tới các loại tranh khác như tranh thêu, tranh sơn mài, tranh gò đồng, tranh gốm, tranh đá quý… Chính vì thế, tranh kiếng đang đối mặt với những đổi thay trong xu hướng thẩm mỹ hiện đại. Ngoài ra, một trong những khó khăn mà nghệ nhân tranh kiếng phải đối mặt đó là việc tạo nên những mẫu tranh đáp ứng được những yêu cầu đa dạng về đề tài, chủng loại cùng khả năng thông thạo một vốn liếng chữ Hán để thể hiện thành những câu đối, đại tự, tấm biển tương thích cho từng nội dung của các chủng loại tranh kiếng đa dạng.

Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, xu hướng hoài niệm quá khứ mang tính chất bảo tồn văn hóa truyền thống hiện nay trong công chúng đã giúp tranh kiếng tồn tại. Đặc biệt, việc áp dụng kỹ thuật kéo lụa, công nghệ in 3D trên kiếng đã làm phong phú, sinh động thêm tạo hình và hình ảnh, từ đó góp phần đưa dòng tranh mỹ thuật dân gian này tiếp tục đến với mọi nhà.

Có thể bạn quan tâm

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: ITPC)

Ba điểm nghẽn cản trở doanh nghiệp ứng dụng AI

Mặc dù làn sóng AI đang thúc đẩy cuộc đua đầu tư công nghệ mạnh mẽ nhưng phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa thể chuyển hóa lợi thế này thành kết quả thực chất. Nguyên nhân do vướng ba điểm nghẽn: dữ liệu phân mảnh trên nhiều hệ thống, thông tin thiếu chuẩn xác, sự mất kết nối giữa khâu phân tích và thực thi hành động.

Lãnh đạo Bộ Quốc phòng đưa tiễn các liệt sĩ về nơi an nghỉ cuối cùng.

Đồng Nai: Truy điệu, an táng 29 hài cốt liệt sĩ

Nhân kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026), tại xã Đồng Tâm, thành phố Đồng Nai long trọng tổ chức Lễ viếng, truy điệu và an táng 29 hài cốt liệt sĩ đã hy sinh trong thời kỳ về nơi an nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Bình Phước.

Toàn cảnh hội nghị. (Nguồn: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)

Thành phố Hồ Chí Minh: Quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế năm 2026

Chiều 12/8, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 8 năm 2026. Đồng chí Nguyễn Văn Được, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì hội nghị.