Hãy cứu lấy sử thi Tây Nguyên!

Năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định công nhận Sử thi Tây Nguyên là di tích văn hóa cấp quốc gia. Nhân dịp này, chúng tôi xin đăng bài của GS, TSKH PHAN ÐĂNG NHẬT về loại hình văn hóa đặc sắc và quý hiếm này của dân tộc.

Già làng kể Khan sử thi cho dân làng nghe.
Già làng kể Khan sử thi cho dân làng nghe.

Sử thi, sự mê hoặc và tập đại thành văn hóa

Sử thi là một giá trị văn hóa lớn của thế giới. Các-Mác đánh giá rất cao sử thi Hy Lạp, coi đó là một tiêu chuẩn, một mẫu mực. Ông viết: "Ðiều khó hiểu là ở chỗ nghệ thuật Hy Lạp, thể anh hùng ca vẫn còn cho ta một sự thỏa mãn về thẩm mỹ và về một phương diện nào đó, chúng còn được làm tiêu chuẩn, làm cái mẫu mực mà chúng ta chưa đạt tới" (Góp phần phê phán chính trị kinh tế học).

Các dân tộc có sử thi coi đây là niềm tự hào của mình, là tượng đài lịch sử của dân tộc. Người Phần Lan đã viết: "Khi làm nên sử thi Ka-lê-va-la, nhân dân Phần Lan đã làm cho mình một con đường xuyên qua núi đá cheo leo, không những chỉ tiến đến châu Âu, mà đến cả thế giới văn minh. Ka-lê-va-la sáng chói như bắc đẩu trên trời cao, kể cho nhân loại nghe về dân tộc Phần Lan" (M.J. Ây-den - 1909). (1)

Người Ấn Ðộ nói rằng: "Cái gì không có trong hai bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-may-a-na thì không thể tìm thấy bất kỳ ở đâu trên đất Ấn Ðộ".

Sử thi Ðăm Xăn (Ðam San) được L.Xa-ba-chi-ê, công sứ Ðác Lắc, phát hiện và công bố năm 1927. Toàn quyền Ðông Dương P. Pa-xki-ê cho rằng: "Làm thế nào để hiểu một dân tộc có hiệu quả hơn là truyền bá các bài ca này trong đó chứa đựng tất cả đời sống xã hội, phong tục, hy vọng không thành, quá khứ huy hoàng đã trôi qua"(2). Nhà dân tộc học Công-đô-mi-nát khẳng định: "Bài thơ tuyệt đẹp đó, tác phẩm nổi tiếng hàng đầu của văn học truyền miệng của các bộ tộc sinh sống sâu trong nội địa của Trung Bộ Việt Nam, cho đến nay vẫn là một kiệt tác không phải bàn cãi"(3).

Ngoài Ðăm Xăn, nhân dân Tây Nguyên còn là chủ nhân của một kho tàng sử thi khổng lồ, của nhiều dân tộc, Mơnông, Ba Na, Xơ Ðăng,... trong đó có những tác phẩm đồ sộ.

Người Tây Nguyên đã say mê đắm đuối sử thi của mình. L.Xa-ba-chi-ê trong bài giới thiệu sử thi Ðăm Xăn đã thuật lại ý kiến của các già làng người Ê Ðê như sau: "Tôi hỏi các già làng: "Vậy Khan là cái gì?" Một người trả lời: "Khan ư? Không có cái gì đẹp hơn thế. Trong khi nhà có một người kể Khan, lúc mặt trời lặn chúng ta thấy người trong nhà chăm chú bất động như thế nào thì chúng ta lại thấy họ bất động y nguyên như thế cho đến lúc mặt trời mọc (việc kể Khan diễn ra qua đêm đến sáng - PÐN). Khi trong nhà có người kể Khan, đàn bà thôi kêu la, trẻ con ngừng khóc, không hề ai ngủ, không ai nói chuyện, tất cả mọi người đều lắng nghe"(4).

Khi nghiên cứu sử thi - hơmon của người Ba Na, GS Tô Ngọc Thanh đã thu nhận được những hiện tượng tiêu biểu thuộc phạm vi quan niệm về sự huyền ảo có thực. Ông viết: "Thành viên của công xã và những thành viên của công xã bên cạnh ngồi thành những nhóm nhỏ ở sân nhà rông dưới trời đêm đông đen đặc. Những nhóm người nghe có thể đốt một đống lửa nhỏ để sưởi và lấy lửa hút thuốc. Họ ngồi lặng lẽ như gỗ, tựa như đã câm. Giọng của người kể được nghe rõ bởi vách nhà rông đan bằng những nan tre. Theo quan sát của tôi, người nghe bị thu hút hoàn toàn bởi diễn biến của câu chuyện. Sau khi hơmon kết thúc, tôi hỏi người bên cạnh:

- Bác nghĩ gì trong thời gian nghe kể?

- Tôi chẳng nghĩ gì cả, tại sao ông lại hỏi thế? Chẳng nhẽ không phải là tôi đã cùng với các nhân vật trong suốt thời gian kể hay sao?".(5)

Không phải chỉ có ngày xưa, mà gần đây, tình yêu, sự say mê sử thi vẫn còn sâu nặng trong các dân tộc. Ka Sô Liễng ghi lại: "Ðêm hôm đó, nhà bên có đám cúng rất to, có đánh cồng đánh chiêng nhảy múa, nhưng khi ông Kpa Y Méo cất tiếng hát sử thi Chi Lơ Kôk thì hình như có nam châm đã hút mọi người vây quanh, lớp trong, lớp ngoài chung quanh ông. Nhân dân xã Krông Pa yêu quý Kpa Y Méo như thế nào thì nhân dân xã Phú Mỡ, Xuân Lãnh, Suối Cối yêu quý ông Ma Phửi cũng như vậy"(6)... Ðây là sự thực của quá khứ, có trường hợp cách đây năm, bảy chục năm.

Nhưng ngày nay thì sao?

Gìn giữ, phát huy sử thi Tây Nguyên

Năm 2007, thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ do Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì (Sử thi Tây Nguyên với cuộc sống đương đại), qua điều tra xã hội học, có 37% số người được hỏi thích sử thi, 60% số người rất thích, 2% không thích.

Như vậy, cho đến nay, người dân Tây Nguyên vẫn rất yêu thích, quý trọng vốn sử thi của mình. Ðiều tra cho biết, có 8,8% số người không biết gì về sử thi và 53,3% hiểu biết rất ít. Ðây là tình trạng đáng báo động.

Trong bảng hỏi, chúng tôi đưa ra các câu hỏi để tìm hiểu nguyện vọng của nhân dân.

Hầu hết số người được hỏi đều tán thành và mong muốn sử thi của dân tộc mình được lưu truyền phổ biến bằng các phương tiện mới như: vô tuyến, kịch, phim truyện, sách. Ngoài ra, một giải pháp quan trọng có tỷ lệ cao về người tán thành và tự nguyện tham gia (80%) là việc mở các lớp dạy sử thi tại các buôn, plây, ngoài các trường, lớp chính quy.

Ðăm Xăn, bộ sử thi đầu tiên được công bố vào năm 1927. Sau đó, chúng ta biết thêm các trường ca khác như Ðăm Di, Xing Nhã, Khinh Dú, Ðăm Ðroăn... Dự án điều tra, sưu tầm sử thi Tây Nguyên gần đây đã xuất bản được bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên gồm 75 tác phẩm, 62 tập, 60.555 trang.

Sử thi Tây Nguyên thật sự là một niềm tự hào, một tài sản vô giá của Việt Nam và thế giới. Nhưng nó đang đứng sát bờ vực của sự tiêu vong.

Nhiệm vụ cấp thiết của thế hệ chúng ta ngày nay là cứu lấy sử thi Tây Nguyên.

Một mặt, cần tạo mọi điều kiện cho sử thi được nhân dân hát - kể trong các buôn, plây.

Mặt khác, các cấp, các tổ chức, cần tận dụng kỹ thuật nghe nhìn mới như: vô tuyến, băng, đĩa, phim, kịch, sách... để phát huy sử thi Tây Nguyên trong xã hội đương đại.

------------------

(1) Sử thi Phần Lan Kalevala, Bùi Việt Hoa dịch, NXB Văn học, H, 1994, trang 3.

(2) Tựa "Bài ca chàng Ðăm Xăn" 1927.

(3) Lời nói đầu Khan Klei Ðăm Di, BEFEO, 1955, tập 46, trang 555.

(4) "Bài ca chàng Ðăm Xăn", trang 143.

(5) "Những nguyên tắc cơ bản của âm nhạc dân gian Việt Nam", luận án Tiến sĩ của Tô Ngọc Thanh, Xô-phi-a, trang 215.

(6) "Vài nét về Trường ca Xing Chi Ôn", NXB Văn hóa dân tộc, H, 1993, trang 6.

Có thể bạn quan tâm

Đồng chí Trần Thanh Lâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương và PGS,TS Vũ Trọng Lâm, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật trao bộ sách tặng Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam.

Giới thiệu bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz"

Bộ sách gồm 24 tập với tổng dung lượng khoảng 15 nghìn trang, tuyển chọn các bài phát biểu, bài viết, trả lời phỏng vấn, thông điệp và nhiều văn kiện quan trọng của Chủ tịch Fidel Castro Ruz trong suốt quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi và bền bỉ của ông, được sắp xếp theo từng giai đoạn lịch sử.

Ảnh minh họa. (Ảnh có sử dụng AI)

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa theo trình tự, thủ tục rút gọn

Thông báo số 12-TB/BCĐTW ngày 30/7/2026 kết luận Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới và giao nhiệm vụ hoàn thiện các dự án Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026) theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Nghệ sĩ Nhân dân Văn Hà (bên phải) chụp cùng nhạc sĩ Đỗ Nhuận vào tháng 5/1975. (Ảnh: TƯ LIỆU)

Tiếp nối khát vọng vun đắp âm nhạc bác học Việt Nam

Trong dòng chảy âm nhạc bác học Việt Nam, Nghệ sĩ Nhân dân Văn Hà là một trong những người đặt nền móng cho nghệ thuật opera và nhạc kịch chuyên nghiệp. Hơn nửa thế kỷ sau, những tư duy nghệ thuật và khát vọng của ông vẫn tiếp tục được các thế hệ nghệ sĩ kế thừa. 

Cảnh trong vở "Các cụ gánh còng lưng" (Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh Ninh Bình) - tác phẩm đạt Huy chương Vàng vở diễn tại Liên hoan quốc tế sân khấu thử nghiệm năm 2025.

Đưa sân khấu vào chuỗi giá trị văn hóa

Những năm qua, sân khấu Việt Nam đã có nhiều nỗ lực tìm tòi, đổi mới. Không ít vở diễn được đầu tư công phu, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật và bản sắc dân tộc, được giới chuyên môn ghi nhận. Tuy vậy, vẫn có khá nhiều vở diễn sức sống của tác phẩm chưa tương xứng với chất lượng sáng tạo.

Nhà thiết kế Hàn Phượng (đứng chính giữa) và dàn nghệ sĩ ra chào khán giả.

Bộ sưu tập áo dài Việt Nam của nhà thiết kế Hàn Phượng mở màn Global Fashion Week All Stars 2026

Tối 31/7, bộ sưu tập mới "Huyền sắc non cao" của nhà thiết kế Hàn Phượng gây chú ý với màn trình diễn của nhiều nghệ sĩ được công chúng yêu mến, mang đến hành trình nghệ thuật lấy cảm hứng từ thiên nhiên, văn hóa và con người miền núi phía bắc, góp phần lan tỏa vẻ đẹp của áo dài Việt Nam trên sàn diễn thời trang quốc tế.

Các đại biểu, diễn viên Nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh cùng các em tham gia khóa học chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: LINH ĐOAN)

Nuôi dưỡng đam mê kịch nói cho thiếu nhi

Lần đầu tiên, Nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lớp dạy kỹ năng biểu diễn sân khấu học đường cho học sinh trên địa bàn. Sau một khóa học kéo dài gần 2 tháng, các bạn nhỏ đã mở cánh cửa đầu tiên trên hành trình khám phá vẻ đẹp của loại hình nghệ thuật kịch nói.

Cơ chế đặt hàng cần hướng tới tạo ra những sản phẩm văn hóa có sức sống lâu dài.

Đổi mới cơ chế đặt hàng để thúc đẩy công nghiệp văn hóa

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định mục tiêu đẩy mạnh phát triển, đưa công nghiệp văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của phát triển đất nước. Muốn hiện thực hóa, cơ chế đặt hàng cần thay đổi theo hướng chuyển từ tư duy đầu tư cho tác phẩm sang đầu tư cho tài sản văn hóa.

Đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ trình bày diễn văn kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026)

Tối 31/7, tại Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, xã Lê Quý Đôn (tỉnh Hưng Yên), Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng tỉnh Hưng Yên tổ chức lễ kỷ niệm cấp quốc gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).