Giảm đau đớn cho người bệnh trong phẫu thuật

Việc triển khai lĩnh vực gây tê vùng và giảm đau đem lại những lợi ích cho người bệnh như tâm lý an tâm, không cảm thấy đau đớn và quan trọng để bảo đảm an toàn cho người bệnh trong suốt quá trình phẫu thuật.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Công Quyết Thắng, Chủ tịch Hội Gây mê hồi sức Việt Nam phát biểu.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Công Quyết Thắng, Chủ tịch Hội Gây mê hồi sức Việt Nam phát biểu.

Từ ngày 18 đến ngày 25/1/2025, Hiệp hội Gây tê vùng và Giảm đau châu Âu (ESRA) phối hợp cùng các hiệp hội chuyên ngành hàng đầu thế giới phát động Tuần lễ Thế giới lần thứ hai về Gây tê vùng và Giảm đau với chủ đề "Chung tay vì một tương lai không đau trên toàn thế giới".

Sự kiện nhận được sự hưởng ứng tham gia của gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, với hơn 14.000 người trên khắp thế giới tham gia một chương trình khoa học trực tiếp hoặc trực tuyến diễn ra từ ngày 18/1-25/1/2025. Tại Việt Nam, chương trình được tổ chức trực tuyến qua nền tảng Zoom và trực tiếp tại hai điểm cầu: Trường Đại học Y-Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội và Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên vào ngày 25/1/2025.

Gây tê vùng và chống đau tốt cho người bệnh có một ý nghĩa rất lớn

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Công Quyết Thắng, Chủ tịch Hội Gây mê hồi sức Việt Nam cho rằng, mỗi người bệnh được chỉ định phẫu thuật đều phải trải qua những cơn đau. Cái đau có thể ảnh hưởng đến tâm lý và nhiều chức năng trong cơ thể, để lại hậu quả rất lâu dài. Chính vì vậy gây tê vùng và chống đau tốt cho người bệnh có một ý nghĩa rất lớn.

Gây tê vùng và giảm đau đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong y học hiện đại, không chỉ đáp ứng nhu cầu điều trị của người bệnh mà còn nâng cao chất lượng chăm sóc y tế trên toàn cầu. Quyền được giảm đau đã trở thành một trong những quyền thiết yếu của con người, được các tổ chức y tế và cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm.

Với tư cách là phẫu thuật tim mạch, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Y dược, Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá, việc triển khai lĩnh vực gây tê vùng và giảm đau tại các y tế của Việt Nam là cần thiết, đem lại những lợi ích cho người bệnh như tâm lý an tâm, không cảm thấy đau đớn và quan trọng để bảo đảm an toàn cho người bệnh trong suốt quá trình phẫu thuật.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Y dược, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Y dược, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu.

Người bệnh có quyền lựa chọn các cơ sở y tế thực hiện các phương pháp giảm đau tiên tiến, nhằm nâng cao chất lượng điều trị, giúp vết thương chóng lành, giảm nguy cơ bội nhiễm vết thương sau mổ, giảm nguy cơ tắc mạch, rút ngắn thời gian nằm viện…

"Việc phát triển gây tê vùng và giảm đau rất lý tưởng đối với người bệnh, giảm thiểu ca phẫu thuật phải gây mê toàn thân. Giờ đây có những ca mổ không đau hoặc bệnh nhân tỉnh hoàn toàn trong quá trình phẫu thuật. Gây tê vùng giảm thiểu rủi ro trong gây mê nói chung hoặc tại những cơ sở y tế chưa đủ điều kiện thực hiện gây mê toàn thân…", Giáo sư, Tiến sĩ Lê Ngọc Thành nói.

Liên tục cập nhật các phương pháp điều trị tiên tiến

Đánh giá thực trạng các cơ sở y tế của Việt Nam triển khai, áp dụng các phương pháp gây tê vùng và giảm đau, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Công Quốc Thắng thừa nhận, hiện một số bệnh viện lớn đã bước đầu quan tâm đến lĩnh vực nhưng chưa được phổ cập rộng khắp các bệnh viện vì nhiều yếu tố về mặt kỹ thuật và các trang thiết bị hỗ trợ.

Vì vậy, để hiện thực hóa mục tiêu nâng cao chất lượng điều trị đau trên cả nước, Việt Nam, đặc biệt là Hội Gây mê Hồi sức Việt Nam, đã và đang triển khai nhiều chiến lược trọng điểm nhằm nâng cao chất lượng điều trị đau, bao gồm cả đau cấp tính và mãn tính trên phạm vi toàn quốc.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Công Quốc Thắng cho biết, Hội Gây mê Hồi sức Việt Nam đang tập trung xây dựng mô hình quản lý đau kết hợp nhiều chuyên ngành trong điều trị đau cấp và mãn tính. Cập nhật các phương pháp điều trị tiên tiến, dựa trên cơ sở khoa học, được phát triển nhằm mang đến cho người bệnh những giải pháp tối ưu và hiệu quả nhất.

Các nhà khoa học tham dự sự kiện.

Các nhà khoa học tham dự sự kiện.

Đẩy mạnh các chương trình đào tạo và hội thảo khoa học chuyên đề nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của các kỹ thuật gây tê vùng và giảm đau. Qua đó, kiến thức về các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực này sẽ được phổ biến rộng rãi, góp phần nâng cao chất lượng điều trị tại các cơ sở y tế.

Hội sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế trong việc xây dựng và triển khai các chiến lược phát triển lĩnh vực điều trị đau, hướng tới mục tiêu chăm sóc toàn diện, các quy trình tiêu chuẩn được thiết lập để bảo đảm bệnh nhân không đau, an toàn, giảm thiểu chi phí điều trị và rút ngắn thời gian nằm viện.

"Chúng tôi đề xuất Bộ Y tế đưa vào sử dụng tại Việt Nam các loại thuốc giảm đau tiên tiến, hiệu quả cao và ít tác dụng phụ đang được áp dụng trên thế giới. Tiếp tục cập nhật các công nghệ hiện đại để phát triển các kỹ thuật giảm đau, đáp ứng hiệu quả trong điều trị cả đau cấp tính và mãn tính", Phó Giáo sư Thắng nói.

Nhiều bài báo khoa học được chia sẻ tại chương trình.

Nhiều bài báo khoa học được chia sẻ tại chương trình.

Bên cạnh đó, để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chăm sóc người bệnh toàn diện, Hội đề xuất Bộ Y tế ban hành các chủ trương và chiến lược xây dựng hệ thống chăm sóc toàn diện cho người bệnh từ trước, trong và sau phẫu thuật. Quy trình này nhằm bảo đảm bệnh nhân không đau, tăng cường hồi phục chức năng, đồng thời giảm thiểu chi phí và thời gian điều trị tại bệnh viện.

Hội nghị đã diễn ra 2 phiên báo cáo khoa học với tổng số 9 báo cáo khoa học. Các báo cáo mang tính khoa học, giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về lĩnh vực gây tê vùng và giảm đau trong điều trị. Mở ra một chương mới trong lĩnh vực gây tê vùng và giảm đau, nhằm hướng tới sự hài lòng của người bệnh.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.