Giải mã gene người Việt có ý nghĩa như thế nào?

NDĐT - GS, TS Tạ Thành Văn, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội cho biết, kết quả nghiên cứu về bộ gene của người Việt là thông tin rất quý giá và là một thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, đó chỉ là kết quả ban đầu và đòi hỏi cả một khối lượng công việc khổng lồ phía sau đó để đưa kết quả này ứng dụng vào thực tế.

Việt Nam có nhiều nghiên cứu về gene mang tính ứng dụng cao.
Việt Nam có nhiều nghiên cứu về gene mang tính ứng dụng cao.

“Nghiên cứu về bộ gene của người Việt” do Viện Nghiên cứu Tế bào gốc - Công nghệ gen Vinmec (VRISG) thực hiện vừa được công bố trên Tạp chí Di truyền quốc tế Human Mutation (IF 4,5). Theo GS, TS Nguyễn Thanh Liêm, Viện trưởng VRIRG, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, nghiên cứu này là cơ sở tham chiếu đầy đủ nhất từ trước đến nay về gene người Việt trong lĩnh vực y sinh.

Trân trọng với các đồng nghiệp về kết quả nghiên cứu này, GS, TS Tạ Thành Văn, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội nhấn mạnh, công bố giải mã gene người Việt là thông tin hết sức quý giá. Tuy nhiên, để ứng dụng được kết quả nghiên cứu này là cả một khối lượng công việc khổng lồ, cần phải có một quá trình rất dài phía sau.

Theo GS, TS Tạ Thành Văn, việc nghiên cứu giải mã bộ gene người nói chung trên thế giới được khởi đầu từ năm 1990 bởi Tập đoàn đa quốc gia của Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Nhật… Dự án kéo dài hơn 10 năm và có kết quả ban đầu vào năm 2003. Chi phí của công trình kéo dài 13 năm này lên tới 2,7 tỷ USD. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, các nhà khoa học đã giải mã toàn bộ gene người.

Công trình đã xác định được khoảng 25 nghìn gene người. Từ kết quả chung đó, nhiều nước đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn, giải mã gene của từng chủng tộc xem có điều gì khác biệt trong bộ gen chung. Các nhà khoa học cũng xác định được gene đặc thù cho từng loài, chủng tộc, họ hàng và gia đình.

Tại Việt Nam, từ năm 1995, Bộ Khoa học Công nghệ đã có một dự án nghiên cứu về gene và Trường Đại học Y Hà Nội phụ trách nghiên cứu nhánh gene người, vi sinh – ký sinh trùng và vi khuẩn.

Bộ môn Sinh lý miễn dịch của trường đã tiến hành lấy mẫu máu của một số chủng tộc người Việt Nam như Kinh, Mường, Mán… và tách chiết bộ gene của các đối tượng, sau đó phân tích, bước đầu chỉ ra một số nét đặc thù cho từng dân tộc, thậm chí là nét đặc thù của từng dòng họ và đã có công bố quốc tế. Việc xác định hài cốt liệt sĩ hay xác định quan hệ huyết thống cũng dựa trên nguyên tắc về gene này.

Vài năm trước, nhóm nghiên cứu tiếp tục dự án của mình và đi sâu vào xác định một số kiểu gene trong cộng đồng liên quan đến bệnh tật, lối sống. “Vì sao có người uống rượu thì sẽ say, bị xơ gan, ung thư gan… hay có người hút thuốc sẽ bị ung thư phổi nhưng có người tuổi thọ vẫn rất cao. Từ nghiên cứu sâu đó, chúng tôi tìm ra được kiểu gene mang nguy cơ cao đối với những bệnh lý này nếu họ hút thuốc, uống rượu…”, GS Văn nói.

Ông cũng cho biết thêm, hiện tuổi thọ của một cá thể biết trước dựa vào giải trình bộ gene. Theo đó, tuổi họ đã được mã hóa, lập trình sẵn trong gene không thể thay đổi. Trên đầu nhiễm sắc thể có các đĩa đệm, mỗi cá thể có bao nhiêu đĩa đệm đó sẽ sống được chừng ấy tuổi. Mỗi năm, một đĩa sẽ rụng đi. Trong điều kiện lý tưởng không ốm đau, bệnh tật, tai nạn giao thông… thì con người sẽ có tuổi thọ tương ứng với gene đã lập trình. Vì thế, khi giảm được các yếu tố nguy cơ, tuổi thọ con người sẽ đạt được tới con số lý tưởng.

Vì thế, GS Tạ Thành Văn nhấn mạnh, hướng nghiên cứu về gene của Trường Đại học Y thiên về những kết quả mang tính chất ứng dụng cao hơn là những số liệu. Trong đó, chủ yếu là tìm ra những gene có nguy cơ mắc bệnh cao hơn bằng cách dùng công nghệ tin y sinh để phân tích kết quả trong mối tương tác giữa các gene mã hóa và không mã hóa, gene đó khi kết hợp với tác nhân bên ngoài, từ đó có khuyến cáo các bệnh tật có thể mắc với một số người, có ý nghĩa trong phòng bệnh.

Khi xác định phân bố kiểu gene trong cộng đồng liên quan đến bệnh tật, cá thể mang gene nguy cơ sẽ được khuyến cáo trong phòng bệnh. Đó là khuyến cáo tốt trên cơ sở nghiên cứu về bộ gene người Việt. Thí dụ, cá thể mang kiểu gene dễ mắc ung thư phổi không nên hút thuốc, cá thể mang gene được xác định có nguy cơ xơ gan tuyệt đối không nên uống rượu bia. Cách đây 10 năm, Trường Đại học Y Hà Nội đã phối hợp với bên Nhật Bản thực hiện một nghiên cứu về ung thư dạ dày liên quan đến uống cà-phê, ung thư gan liên quan đến uống rượu… và đã có một số kết quả rất khả quan.

* Công bố nghiên cứu lớn nhất về bộ gen của người Việt

Có thể bạn quan tâm

Người dân tìm hiểu thông tin về chế độ dinh dưỡng dành cho người mắc các bệnh không lây nhiễm tại cơ sở khám, chữa bệnh. (Ảnh: VÂN VÂN)

Phòng bệnh sớm từ chế độ ăn uống

Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng ngày càng tăng do các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp… Xu hướng này thường gắn với thói quen ăn uống không lành mạnh, nhất là việc sử dụng nhiều muối, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ uống có đường của người dân.

Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan trao Quyết định và tặng hoa chúc mừng Quỹ Phòng bệnh. (Ảnh: LÊ HẢO)

Quỹ Phòng bệnh chính thức ra mắt đi vào hoạt động

Ngày 20/8, Quỹ Phòng bệnh (Bộ Y tế) - một quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập giúp huy động, quản lý và phân bổ hiệu quả các nguồn lực hợp pháp, bổ sung kịp thời cho những khoảng trống mà ngân sách nhà nước chưa đáp ứng đủ cho công tác phòng bệnh chính thức ra mắt.

Các bác sĩ thực hiện ca can thiệp. (Ảnh: SỸ HIẾU)

Nắn chỉnh kín và cố định xương bằng đinh nội tủy đàn hồi cho cháu bé bị gãy xương cánh tay

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội (cơ sở Linh Đàm) vừa xử lý nắn chỉnh kín và cố định xương bằng đinh nội tủy đàn hồi qua hai đường rạch da khoảng 5mm, giúp cháu bé hạn chế bóc tách mô mềm, bảo tồn tối đa màng xương, nguồn cấp máu và vùng sụn tăng trưởng của trẻ.

Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y trao Bằng khen của Bộ trưởng Quốc phòng tặng Bộ môn-Khoa Thận và Lọc máu. (Ảnh: TUẤN DŨNG)

Nâng cao toàn diện chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển kỹ thuật chuyên sâu trong điều trị bệnh lý về thận

Ngày 20/8, tại Hà Nội, Bộ môn-Khoa Thận và Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân y) tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày truyền thống (21/8/2006-21/8/2026) và đón nhận Bằng khen của Bộ trưởng Quốc phòng. Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y dự và chúc mừng đơn vị.

Ê-kíp các bác sĩ Bệnh viện K thực hiện phẫu thuật cho người bệnh. (Ảnh: BVCC)

Phẫu thuật thay toàn bộ xương đùi, giữ lại chân cho bệnh nhân bị ung thư xương

Với người bệnh 59 tuổi, việc đối diện với căn bệnh ung thư xương, nguy cơ phải cắt bỏ toàn bộ xương đùi là một thách thức rất lớn về cả sức khỏe và tâm lý. Do đó, cân nhắc phương án phẫu thuật loại bỏ tổn thương mà vẫn giữ được đôi chân là mong muốn của cả ê-kíp bác sĩ và gia đình người bệnh.

Cán bộ y tế tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi chủ động dự phòng, sàng lọc để đẩy lùi bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung. (Ảnh: ĐỖ THỦY)

Phát hiện sớm để điều trị hiệu quả

Ung thư vú, ung thư cổ tử cung là hai bệnh tác động tiêu cực đối với sức khỏe phụ nữ, chiếm tỷ lệ mắc mới và tử vong cao trong nhóm ung thư ở nữ giới. Tuy nhiên, nếu được dự phòng và phát hiện sớm bằng các biện pháp sàng lọc hiệu quả, đều có thể giảm tỷ lệ tử vong vì căn bệnh nêu trên.

Tổn thương do giun rồng. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Thêm một ca giun rồng được phát hiện tại Việt Nam

Bệnh viện Đặng Văn Ngữ vừa tiếp nhận bệnh nhân nam 49 tuổi ở Lào Cai, có 2 tổn thương trên cẳng tay trái. Trước khi đến viện, người bệnh đã được người nhà kéo ra hai đoạn giun màu trắng dài khoảng 10-20cm. Đây là trường hợp mắc giun rồng thứ 44 được ghi nhận tại Việt Nam từ năm 2020 đến nay.

Bệnh nhân bình phục sức khỏe và được ra viện sáng 19/8.

Một tháng nguy kịch do Covid-19, bệnh nhân được cứu sống nhờ can thiệp ECMO

Mắc Covid-19 biến chứng ARDS, sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, nam bệnh nhân 43 tuổi từng ở trong tình trạng nguy kịch, phải thở máy, lọc máu và sử dụng ECMO. Sau gần một tháng hồi sức tích cực với nhiều kỹ thuật chuyên sâu tại Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), bệnh nhân đã hồi phục, được cai máy thở và xuất viện sáng 19/8.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia chia sẻ tại hội thảo. (Ảnh thiết kế bởi AI)

Bữa ăn của người Việt đang “dư năng lượng, thiếu vi chất”

Dù lượng muối tiêu thụ trung bình của người Việt đã giảm từ 9,42g/ngày năm 2015 xuống 8,07g/ngày năm 2021, mức này vẫn cao khoảng 1,6 lần khuyến nghị của WHO. Trong khi đó, tiêu thụ đồ uống có đường tăng tới 350% trong 15 năm, cho thấy những thách thức lớn trong thay đổi thói quen ăn uống và phòng ngừa bệnh không lây nhiễm.