Đọc sách: "Thuyền buồm Đông Dương" - Hiểu người xưa qua đời sống thuyền buồm

Đọc sách: "Thuyền buồm Đông Dương" - Hiểu người xưa qua đời sống thuyền buồm

“Thuyền buồm Đông Dương” được Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu gần 10 năm nay, song với tính chất một công trình nghiên cứu chi tiết, độc đáo, cuốn sách này vẫn mang đến những những tư liệu, gợi ý đáng quý cho người quan tâm văn hóa, nghiên cứu.

"Thuyền buồm Đông Dương” (Voiliers d’Indochine) của J.B.Piétri ngay từ khi xuất bản lần đầu năm 1943 đã được xem như một công trình hiếm hoi về chủ đề này. Người chuyển ngữ ấn bản tiếng Việt “Thuyền buồm Đông Dương” (Nhà xuất bản Trẻ 2015) là kỹ sư đóng tàu Đỗ Thái Bình, hội viên Hội Khoa học kỹ thuật biển Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Đóng tàu Hoa Kỳ SNAME.

Ông cũng nhận định: “Trong số những cuốn sách nghiên cứu về dân tộc học, khảo cổ học… về Việt Nam, cuốn Thuyền buồm Đông Dương có vị trí khá đặc biệt. Có lẽ đó là một công trình duy nhất nghiên cứu khá tỉ mỉ về thuyền bè nước ta nên được hầu hết các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trích dẫn khi bàn về nền văn minh lúa nước, truyền thống sông nước, ngư nghiệp của Việt Nam.”

J.B.Piétri viết công trình này từ những năm 1930-1940 với một thứ tiếng Pháp cổ xưa, lãng mạn - thứ tiếng nói được chính những người đi biển sử dụng để kể một câu chuyện của đời sống thuyền bè khu vực Đông Dương.

Sách từng được dịch giả Stephanie Dumont chuyển ngữ sang tiếng Anh năm 2005.

“Thuyền buồm Đông Dương” đã được Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu gần 10 năm nay, song với tính chất một công trình nghiên cứu chi tiết, độc đáo, cuốn sách này vẫn mang đến những những tư liệu, gợi ý đáng quý cho người quan tâm văn hóa, nghiên cứu.

Sách chia làm 6 phần cơ bản. Ngoài phần đầu về đặc điểm thuyền buồm Đông Dương và chuyện đóng thuyền ở Nam Kỳ, các khu vực của Trung Kỳ, Bắc Kỳ, thì diện mạo, đời sống thuyền bè được nhìn chi tiết theo khu vực như Cambodge, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Hoa.

THUYỀN BÈ VÀ VĂN HÓA

Là đất nước có 2.600 km bờ biển với một chỉ số hướng biển khá cao trong khu vực, thì thuyền bè hẳn là một câu chuyện lớn về văn hóa. Trong đó nghề cá là một nghề cổ xưa lưu dấu đời sống vật chất, tinh thần, lao động sáng tạo của cư dân miền biển. Chưa kể biển và thuyền bè cũng là chứng tích lịch sử gắn liền với những thăng trầm của dải đất này.

Nói cách khác chuyện sáng tạo, sử dụng thuyền bè là một biểu hiện sống động của văn hóa biển trong đời sống đa dạng của văn hóa Việt Nam, khu vực và thế giới.


Độc giả thong thả đọc, ngắm tranh vẽ minh họa sinh động của tác giả sẽ nhận biết những nét chung và riêng của đời sống thuyền bè.


Ở đó, có khắc nghiệt của nghề đi biển, vốn không có chỗ cho “những kẻ vụng về và yếu đuối”, có lịch sử ra khơi từ thuở xa xưa: “Cưỡi trên một thân cây bương, một ngư dân Hà Tĩnh, với độc một chiếc khố lao ra biển xa thường từ 6 đến 10 hải lý. Tại đó, dưới ánh mặt trời, anh ta vật lộn suốt ngày trong sóng để câu, mãi tối mịt mới trở về, người tơi tả nhưng lại sẵn sàng ra đi vào sáng hôm sau…”.

Và nữa câu chuyện con mắt vẽ trên thuyền để giúp thuyền giống như một con cá lớn dẫn đường cho người đi biển.

Phía sau mỗi cuộc cải tiến, chi tiết khác biệt của một con thuyền đều lưu dấu sáng tạo vật chất và sự kế thừa văn hóa của khu vực giao thương to lớn miền ven biển Đông Dương này.

Độc giả thong thả đọc, ngắm tranh vẽ minh họa sinh động của tác giả sẽ nhận biết những nét chung và riêng của đời sống thuyền bè. “Thuyền bè Việt Nam được phân biệt nhờ một đặc tính chung, ít có ngoại lệ, đó là chúng không có sống chính. Đáy của chúng luôn liền làm một, phẳng phiu hay rất lượn. Trường hợp ngoại lệ là ghe trường ở Hội An và ghe cửa vùng vịnh Thái Lan… thường gặp những mẫu thuyền có sống chính ghép đoạn với nhau”.

Hay “Trên hầu hết những thuyền buồm Việt nam, bộ buồm luôn có 3 chiếc: buồm mũi, buồm giữa và buồm đuôi.” Và “Kiểu sắp buồm kinh điển nhất khi chạy thuận gió các cánh buồm giương ra như “cánh kéo” hay còn gọi là “cánh tiên”.

J.B.Piétri cũng đưa độc giả tới với những con thuyền gắn với những nghề khác nhau, như thuyền trọng tải 120 tấn, dài 30m, chiều rộng 6m gắn với cảng cá có nghề làm nước mắm nổi tiếng là ghe bầu Mũi Né mà nay (thời điểm tác giả viết công trình này) đã biến mất.

GIÁ TRỊ NGHIÊN CỨU, THAM KHẢO

John H.Doney, người sáng lập Quỹ Thuyền gỗ Việt Nam, khi còn tại thế, trong lời giới thiệu bản tiếng Anh cho công trình này từng bày tỏ: “Những ai thích thú tới việc đóng thuyền gỗ, thuyền buồm và công nghệ đóng thuyền gỗ cổ truyền sẽ thấy cuốn sách này là một kho báu, bởi J.B.Piétri quan tâm tới từng chi tiết. Ông có khả năng quan sát và mô tả vô số chi tiết của thuyền bè Đông Dương, buồm và dây nhợ, cách đóng thuyền và các trang bị phụ trợ. Đây là một tài liệu quý giá cho thấy tài khéo léo và óc sáng tạo của người Việt, cùng phần minh họa rất xuất sắc của chính tác giả.”

Phần quan trọng không thể phủ nhận là công trình “Thuyền buồm Đông Dương” còn là bảo tàng hình ảnh chi tiết về kỹ thuật, sáng tạo thuyền bè khu vực này.

Quả thật, công trình của J.B.Piétri đã cố gắng lưu giữ một thứ ngôn ngữ, không khí đời sống miền biển mà như ông bày tỏ: “… chúng tôi chọn dùng từ ngữ xưa, có người quên, có người thích, nhưng trên hết đây là thứ ngôn ngữ truyền tải được giấc mơ, trí tưởng tượng và cả mùi sống thuyền trét hắc ín, thứ ngôn ngữ làm dâng lên nỗi hoài cổ trong lòng mỗi người đi biển”.

Bên cạnh đó, phần quan trọng không thể phủ nhận là công trình “Thuyền buồm Đông Dương” còn là bảo tàng hình ảnh chi tiết về kỹ thuật, sáng tạo thuyền bè khu vực này.

Phần quan trọng không thể phủ nhận là công trình “Thuyền buồm Đông Dương” còn là bảo tàng hình ảnh chi tiết về kỹ thuật, sáng tạo thuyền bè khu vực này.

Tác giả đã dùng bút chì và màu để tái hiện cụ thể các chi tiết của con thuyền, cùng những phân tích thủy động học, so sánh với thuyền bè của nơi khác trên thế giới. Chỉ riêng hình ảnh những mũi ghe trong câu chuyện “Đóng thuyền ở Bắc Kỳ” đã cung cấp cho độc giả, người nghiên cứu những hình dung quý giá. Ghe câu Đồng Hới nhọn đầu vươn cao, ghe mành Quảng Bình hình bầu, ghe mành Nam Định, ghe câu Phú Quốc… đều có nét, chi tiết giống và khác nhau. Một thế giới thuyền buồm đa sắc hơn ta biết có thể trở thành tài liệu tham khảo quý giá cho các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật khác như điện ảnh, mỹ thuật…

Tương tự, phần “Thuật ngữ hàng hải” cuối sách cũng là một nỗ lực khoa học đáng trân trọng của tác giả. Và cho dù, các quan điểm, nhận định có thể còn có chỗ cần nghiên cứu thêm thì tinh thần tìm tòi nghiêm túc và trân trọng đời sống văn hóa biển Việt Nam cũng như khu vực vẫn có hấp lực lớn đối với người đọc, giới nghiên cứu.

Có thể bạn quan tâm

Đoàn diễu hành mang đến không khí lễ hội rộn ràng trên đường phố Thái Nguyên.

Hương sắc xứ Trà khai mùa hội mới

Sắc màu rực rỡ của đoàn diễu hành nghệ thuật “Rước Trà Khai hội” vừa tái hiện biểu tượng các vùng danh trà trên nhiều tuyến phố trung tâm Thái Nguyên, mở đầu Festival Trà Quốc tế-Thái Nguyên 2026. Chương trình góp một cách kể chuyện sáng tạo, đưa những giá trị văn hóa xứ Trà đến gần hơn với công chúng trong nước và quốc tế.

Chương trình nghệ thuật tôn vinh vùng đất Yên Thế. (Ảnh: ĐH)

Yên Thế, Bắc Ninh: Tôn vinh văn hóa ẩm thực

Tối 30/10, tại đình Ba Tầng Mái (Khu di tích lịch sử Hoàng Hoa Thám), xã Yên Thế, thành phố Bắc Ninh diễn ra Lễ hội ẩm thực Yên Thế năm 2026, giới thiệu đặc sản địa phương cùng các hoạt động trải nghiệm văn hóa, ẩm thực truyền thống.

Những tiết mục nghệ thuật mở đầu chương trình khai mạc DACC 2026. (Ảnh: TÙNG LÂM)

Khai mạc sự kiện Kết nối nghệ thuật sáng tạo Đà Nẵng: Đánh thức không gian di sản

Ngày 30/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng chính thức khai mạc sự kiện Kết nối nghệ thuật sáng tạo Đà Nẵng (DACC 2026) với chủ đề “Lịch sử của Ngày mai”. Sự kiện diễn ra từ nay đến hết ngày 8/11 tại hai bảo tàng lớn của thành phố là Bảo tàng Đà Nẵng và Bảo tàng Điêu khắc Chăm.

Tiến sĩ Ngô Phương Lan, Chủ tịch VFDA, trao đổi với các khách mời quốc tế trong Vietnam Night về tăng cường kết nối và mở rộng cơ hội hợp tác điện ảnh. (Ảnh: VFDA)

Giới thiệu tiềm năng của điện ảnh Việt Nam tại Tokyo

Hơn 300 đại biểu, nghệ sĩ, nhà làm phim, đối tác quốc tế... đã tham dự Vietnam Night - Đêm Việt Nam tại khách sạn Imperial Tokyo, Nhật Bản. Chương trình do Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam (VFDA) và Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản tổ chức, trong khuôn khổ Liên hoan phim Quốc tế Tokyo lần thứ 39 (TIFF 2026).

Quang cảnh họp báo công bố Lễ hội nhạc Jazz Việt Nam-Vietnam Jazz Heritage Festival 2026 tại Đà Lạt. (Ảnh: BẢO VĂN)

Lần đầu Lễ hội nhạc Jazz Việt Nam quy mô lớn được tổ chức tại Đà Lạt

Lần đầu, Lễ hội nhạc Jazz Việt Nam quy mô lớn được tổ chức tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, quy tụ nhiều nghệ sĩ tên tuổi trong nước và quốc tế. Đêm khai mạc tại Quảng trường Lâm Viên mở cửa miễn phí, tạo điều kiện để âm nhạc đến gần hơn với công chúng, góp phần đưa nghệ thuật trở thành một phần của nhịp sống đô thị cao nguyên.

Nhà thiết kế Trịnh Bích Thủy (ở giữa) dành nhiều tâm huyết cho việc tìm hiểu, gìn giữ và phát huy giá trị của lụa Việt. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Phát huy giá trị di sản qua thời trang

Việc đưa các yếu tố di sản văn hóa vào thiết kế thời trang ngày càng phổ biến, từ chất liệu, kỹ thuật thủ công đến hoa văn, hình ảnh truyền thống. Tuy nhiên, có những trường hợp đưa lên trang phục một cách khiên cưỡng, thậm chí làm sai lệch di sản.

Các đại biểu tham dự chương trình giao lưu chụp ảnh kỷ niệm. (Ảnh: Đại sứ Việt Nam tại Hungary cung cấp)

Giao lưu văn hóa, thắt chặt tình hữu nghị giữa Việt Nam với Nga và Belarus tại Hungary

Chương trình giao lưu “Về miền ký ức chung - Giao lưu văn hóa Nga, Việt Nam và Belarus tại Hungary” góp phần tăng cường giao lưu nhân dân, thắt chặt tình hữu nghị giữa Việt Nam với Nga và Belarus; đồng thời quảng bá văn hóa, ẩm thực Việt Nam tại thủ đô Budapest (Hungary), hướng tới Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11.

Tiết mục xiếc kết hợp hiệu ứng công nghệ trong vở “Sơn thần thủy quái”. (Ảnh: BVHTTDL)

Ứng dụng công nghệ trong nghệ thuật biểu diễn

Ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào khả năng lựa chọn giải pháp phù hợp đặc trưng và điều kiện từng đơn vị nghệ thuật.

Lãnh đạo, cán bộ, viên chức, người lao động Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật chụp ảnh lưu niệm tại Di tích lịch sử Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản tại xóm Cây Hồng (1947-1950), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: NXB)

Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (1947-1950) được xếp hạng Di tích quốc gia

Ngày 29/10, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký ban hành Quyết định số 2913/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật) tại xóm Cây Hồng (19471950), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên.

Tiết mục nghệ thuật tại Lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý” lần thứ 17. (Ảnh: TRỌNG HẢI)

Lan tỏa giá trị nhân văn từ Cuộc thi "Những tấm gương bình dị mà cao quý”

Sáng 29/10, Lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý” lần thứ 17 đã diễn ra tại Hà Nội. Cuộc thi do Báo Quân đội nhân dân phối hợp Vụ Báo chí-Xuất bản (Ban Tuyên giáo Trung ương), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Ngân hàng TMCP Bắc Á và Binh đoàn 20 - Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn tổ chức.

Tùng Dương dự định mang đến sân Mỹ Đình nhiều ca khúc ca ngợi quê hương, đất nước, thể hiện bản sắc văn hóa và khí phách dân tộc. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Sức nóng từ Live-concert “Bay về phía mặt trời” của Tùng Dương

12 giờ trưa ngày 28/10, Live-concert “Bay về phía mặt trời” của Tùng Dương chính thức mở bán một số hạng vé và nhanh chóng ghi nhận 8.000 vé được bán hết chỉ trong vòng 1 tiếng. Đến 19 giờ cùng ngày, có tới 15.000 vé được bán ra, cho thấy sự quan tâm lớn của khán giả dành cho dự án âm nhạc đánh dấu 25 năm ca hát của nam ca sĩ.

Các đại biểu cắt băng khai mạc Trưng bày chuyên đề. (Ảnh: TRANG ANH)

Trưng bày chuyên đề “Nghĩa tình cách mạng-Những đồng chí Việt Nam tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu”

Ngày 28/10, Trưng bày chuyên đề “Nghĩa tình cách mạng-Những đồng chí Việt Nam tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu” đã khai mạc tại Hà Nội. Trưng bày do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo Vụ Lý luận chính trị, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp Bảo tàng Lịch sử Cách mạng Quảng Đông tổ chức.

Phối cảnh sân khấu chương trình nghệ thuật chính luận “Tự hào là người Việt Nam – Nối vòng tay lớn”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Tự hào là người Việt Nam 2026” hướng tới đại đoàn kết dân tộc

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Tự hào là người Việt Nam 2026” hiện đang được đông đảo công chúng quan tâm, bởi không chỉ là một sự kiện nghệ thuật chính luận, mà còn mang ý nghĩa hướng tới Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, Ngày Văn hóa Việt Nam và kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến.