Việt Nam và Israel ký kết Hiệp định Thương mại Tự do VIFTA

Hiệp định VIFTA được khởi động đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương giữa Việt Nam ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại.
Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang tiếp lãnh đạo các doanh nghiệp Israel. (Ảnh: Vũ Hội/TTXVN)
Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang tiếp lãnh đạo các doanh nghiệp Israel. (Ảnh: Vũ Hội/TTXVN)

Ngày 25/7, tại Văn phòng Thủ tướng Israel, trước sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Nhà nước Israel Benjamin Netanyahu và Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trần Lưu Quang, Bộ trưởng Công thương Việt Nam Nguyễn Hồng Diên đã cùng Bộ trưởng Kinh tế và Công nghiệp Israel Nir Barkat ký kết Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-Israel (VIFTA).

Hiệp định VIFTA được khởi động đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương giữa Việt Nam ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại.

Việc VIFTA được ký kết đánh dấu thành quả nỗ lực không mệt mỏi của cả hai nước sau quãng thời gian 7 năm với 12 phiên đàm phán và càng có ý nghĩa trong bối cảnh hai nước đang tiến hành nhiều hoạt động thiết thực nhân dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.

Đặc biệt, Israel là quốc gia đầu tiên tại khu vực Tây Á mà Việt Nam ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) và Việt Nam cũng là quốc gia đầu tiên tại khu vực Đông Nam Á mà Israel ký kết FTA.

Israel hiện là một trong những đối tác hợp tác thương mại, đầu tư và lao động quan trọng hàng đầu của Việt Nam tại Tây Á.

Cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam và Israel có tính bổ trợ lẫn nhau, các mặt hàng xuất nhập khẩu của hai nước không những không cạnh tranh trực tiếp mà còn có sự bổ sung cho nhau.

Việc ký kết và triển khai thực hiện VIFTA sẽ tạo tiền đề thuận lợi để Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng thế mạnh sang Israel, đồng thời có cơ hội tiếp cận các mặt hàng công nghệ cao của Israel, góp phần làm giảm chi phí sản xuất, kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Hiệp định gồm 15 Chương và một số phụ lục đính kèm các chương với các nội dung cơ bản như thương mại hàng hóa, dịch vụ-đầu tư, quy tắc xuất xứ, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS), hải quan, phòng vệ thương mại, mua sắm chính phủ, pháp lý-thể chế.

Với việc đạt được các thỏa thuận tại tất cả các chương trong hiệp định, nhất là cam kết mạnh mẽ của hai bên về nâng cao tỷ lệ tự do hóa thương mại với tỷ lệ tự do hóa tổng thể đến cuối lộ trình cam kết của Israel là 92,7% số dòng thuế trong khi của Việt Nam là 85,8% số dòng thuế, hai bên kỳ vọng rằng thương mại hai chiều sẽ có sự tăng trưởng vượt bậc, sớm đạt mức 3 tỷ USD và cao hơn nữa trong thời gian tới.

Qua đó, không chỉ góp phần nâng cao kim ngạch trao đổi thương mại hàng hóa hai chiều, VIFTA được kỳ vọng là đòn bẩy giúp tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nước về đầu tư, dịch vụ, chuyển đổi số, công nghệ…

Ngoài ra, việc ký kết và triển khai thực hiện VIFTA sẽ tạo tiền đề thuận lợi để Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng thế mạnh không chỉ sang Israel mà còn có cơ hội tiếp cận các thị trường khác tại Trung Đông, Bắc Phi và Nam Âu.

Ở chiều ngược lại, bên cạnh thị trường trên 100 triệu dân của Việt Nam, hàng hóa và công nghệ của Israel có cơ hội tiếp cận thị trường các nước khu vực ASEAN, châu Á-Thái Bình Dương và các nền kinh tế lớn trong 16 FTA mà Việt Nam đã tham gia.

Về khía cạnh xã hội, trong tương lai gần, trên cơ sở thế mạnh đặc biệt của Israel về công nghệ và tài chính khi kết hợp với thế mạnh của Việt Nam về môi trường đầu tư, quy mô thị trường và mạng lưới 16 FTA mà nước ta đã tham gia, VIFTA sẽ mang lại nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh, đầu tư cho doanh nghiệp Israel vào Việt Nam. Qua đó, góp phần tạo công ăn việc làm trong một bộ phận người lao động ở các lĩnh vực mà Israel quan tâm và đầu tư.

Có thể bạn quan tâm

Hiện thực hóa Nghị quyết 70-NQ-TW: Tự chủ năng lượng trước yêu cầu tăng trưởng mới.

Hiện thực hóa Nghị quyết 70-NQ/TW: Tự chủ năng lượng trước yêu cầu tăng trưởng mới

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 70-NQ/TW), công tác hoàn thiện thể chế, chính sách đã có những chuyển động quan trọng, tạo nền tảng thúc đẩy ngành năng lượng phát triển trong giai đoạn mới.

Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành và các chuyên gia KPMG tại phiên thảo luận cấp cao. (Ảnh: Cục Thuế)

Ngành thuế đẩy nhanh quá trình nghiên cứu và phát triển “trợ lý cao cấp” cho người nộp thuế

Tại hội thảo thuế và pháp lý thường niên Tax & Legal Institute 2026 do KPMG tổ chức chiều 27/10, Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành cho biết, ngành Thuế đang xây dựng hệ thống công nghệ thông tin theo hướng trở thành “trợ lý cao cấp” của người nộp thuế, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kiểm tra, đánh giá rủi ro thuế.

Đại biểu Trần Quốc Tuấn (Đoàn Vĩnh Long) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)

Minh bạch cơ chế quản lý, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh

Các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ căn cứ xác lập độc quyền, bổ sung quy định kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên môi trường số, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Áp dụng quản lý rủi ro giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. (Ảnh: CHQ)

Để tuân thủ trở thành lợi thế của doanh nghiệp

Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật cần được hưởng thuận lợi tương xứng khi làm thủ tục hải quan. Gắn quản lý rủi ro với quản lý tuân thủ và dữ liệu số đang mở hướng giảm can thiệp với doanh nghiệp có lịch sử chấp hành tốt, đồng thời tập trung kiểm soát đối tượng có nguy cơ cao.

Thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện theo hướng minh bạch, an toàn và hiệu quả. (Ảnh: TTXVN)

Gỡ rào cản kinh doanh, tạo thuận lợi cho thị trường chứng khoán

Dự thảo sửa đổi Luật Chứng khoán đề xuất cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục và thúc đẩy giao dịch điện tử. Những thay đổi này hướng tới giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh chứng khoán và nhà đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý thị trường.

Điện gió Quảng Bình. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Thích ứng với các quy định xanh của EU: Yêu cầu pháp lý và giải pháp cho hàng xuất khẩu Việt Nam

Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EU); Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới của EU khi được áp dụng và thực thi đầy đủ đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn cho hàng xuất khẩu của nước ta, đồng thời tạo sức ép tích cực thúc đẩy chuyển đổi xanh, nâng cao vị thế của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới.

Quốc hội thảo luận tại hội trường sáng 28/10. (Ảnh: DUY LINH)

Sửa Luật Chứng khoán: Làm rõ cơ chế thử nghiệm công nghệ mới, bảo vệ nhà đầu tư

Sáng 28/10, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ cơ chế thử nghiệm công nghệ mới, giới hạn miễn trừ trách nhiệm và kiểm soát xung đột lợi ích, nhằm bảo vệ nhà đầu tư và tạo điều kiện phát triển thị trường chứng khoán.

Các nhà thầu khẩn trương thi công các hạng mục của Gói thầu XL01, XL02, XL03... thuộc dự án đường cao tốc Vinh-Thanh Thủy. (Ảnh: HƯƠNG TRÀ)

Điểm sáng giải ngân vốn đầu tư công

Với tỷ lệ giải ngân đạt 72,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn bình quân chung của cả nước (64,8%), Nghệ An là điểm sáng về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. Kết quả này có được nhờ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp bảo đảm tiến độ, đưa các công trình, dự án trọng điểm sớm về đích theo đúng kế hoạch.

Luật Phát triển đô thị mở ra nhiều cơ hội, chính sách vượt trội cho Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: QUANG QUÝ)

Động lực phát triển đô thị bền vững

Luật Phát triển đô thị có hiệu lực từ ngày 1/10 vừa qua mở ra không gian chủ động lớn hơn cho Thành phố Hồ Chí Minh trong khai thác nguồn lực và tháo gỡ điểm nghẽn. Triển khai cơ chế mới hiệu quả trên thực tế sẽ góp phần tạo chuyển biến cụ thể, tích cực đối với đời sống kinh tế-xã hội của thành phố.

Thuyền viên làm việc trên buồng lái tàu biển. (Ảnh: VIMC)

Tạo nguồn nhân lực cho chiến lược kinh tế biển

Thiếu lao động chuyên môn sâu, cơ cấu đào tạo chưa theo kịp nhu cầu và những khó khăn trong thu hút nhân lực chất lượng cao là những điểm nghẽn đáng quan tâm đối với kinh tế biển theo hướng xanh, hiện đại và bền vững.