Ngư dân chuyển mình cùng công nghệ

Ở các vùng biển miền trung hôm nay, câu chuyện ra khơi không chỉ xoay quanh kinh nghiệm truyền đời hay hướng gió, mà công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành “bạn đồng hành” mới của ngư dân, giúp vận hành nghề cá minh bạch, hiệu quả hơn và từng bước phát triển bền vững.

Nhiều tàu cá ở miền trung đã sử dụng công nghệ để ra khơi khai thác hải sản hiệu quả và bền vững. Ảnh: Ng Lân
Nhiều tàu cá ở miền trung đã sử dụng công nghệ để ra khơi khai thác hải sản hiệu quả và bền vững. Ảnh: Ng Lân

Tại nhiều địa phương, việc ứng dụng công nghệ trong khai thác và quản lý nghề cá đã không còn là chuyện thử nghiệm. Trên những con tàu vươn khơi xa, bên cạnh máy dò cá và thiết bị định vị quen thuộc, ngày càng phổ biến thiết bị giám sát hành trình (VMS), bản đồ số và các ứng dụng ghi nhật ký khai thác điện tử. Những công cụ này giúp ngư dân theo dõi hành trình, cập nhật thông tin thời tiết, ngư trường và quan trọng hơn là đánh bắt đúng vị trí, đúng quy định, giảm rủi ro vi phạm, nâng cao hiệu quả chuyến biển.

Nhiều tàu cá của tỉnh Lâm Đồng đã trang bị máy dò ngang, công nghệ đèn LED, hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt và thiết bị bảo quản lạnh ngay trên tàu. Những tiến bộ này giúp mở rộng ngư trường, tăng sản lượng, giảm chi phí nhiên liệu và giữ chất lượng hải sản ngay từ trên biển, tạo nền tảng ổn định thu nhập cho ngư dân.

Ngư dân Trần Văn Hải, thành phố Đà Nẵng, chủ một tàu cá khai thác xa bờ, cho biết: “Trước mỗi chuyến biển, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền miệng, tôi theo dõi thông tin ngư trường, thời tiết và hành trình ngay trên thiết bị điện tử gắn trên tàu. Giờ tàu đi đâu, ở đâu, về lúc nào, đều có hệ thống ghi nhận. Tôi biết mình đang đánh bắt đúng vùng, đúng tuyến nên yên tâm hơn. Công nghệ đã làm thay đổi cách ra khơi của tôi và các bạn thuyền”.

Ban đầu, ông Hải có phần bỡ ngỡ với việc ghi nhật ký khai thác điện tử hay duy trì VMS, nhưng khi quen rồi, ông thấy “nhẹ việc hơn trước, cập cảng cũng nhanh, không phải giải thích nhiều”.

Đội tàu khai thác biển của tỉnh Gia Lai cũng đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong nghề cá. Tại đây, ngư dân từng bước chuyển từ ghi chép thủ công sang sử dụng nhật ký khai thác điện tử trên điện thoại thông minh, kết hợp với dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình. Việc số hóa giúp minh bạch thông tin về thời gian, vị trí và sản lượng khai thác, đáp ứng yêu cầu quản lý nghề cá hiện đại và hướng tới mục tiêu gỡ “thẻ vàng” IUU.

Ngư dân Phạm Văn Thiện, một thuyền trưởng ở Gia Lai, chia sẻ: “Ban đầu tôi khá lúng túng khi phải làm quen với điện thoại và phần mềm thay cho sổ tay. Nhờ được cán bộ cảng hướng dẫn kỹ nên tôi làm trong vài chuyến biển là quen. Giờ, dữ liệu cập nhật rõ ràng, mình cũng yên tâm hơn khi vào cảng. Làm đúng quy trình, tuy có thêm thao tác nhưng đổi lại là sự chủ động và tin cậy trong mỗi chuyến biển”.

Ở góc độ quản lý, chuyển đổi số đang tạo ra thay đổi căn bản trong cách vận hành cảng cá. Ông Nguyễn Anh Dũng, Phó Giám đốc Ban Quản lý Cảng cá Quy Nhơn cho biết, việc yêu cầu tàu cá lắp đặt VMS và sử dụng nhật ký khai thác điện tử giúp hình thành hệ thống dữ liệu cập nhật thường xuyên, hỗ trợ giám sát, xác nhận nguồn gốc thủy sản nhanh gọn hơn, giảm thủ tục cho ngư dân và tạo thuận lợi cho chuỗi tiêu thụ, xuất khẩu.

Nghề cá miền trung đang bước vào giai đoạn mới, khai thác gắn với công nghệ, minh bạch và trách nhiệm. Đây chính là nền tảng để hướng tới một ngành thủy sản hiện đại, hiệu quả và bền vững hơn, mở ra câu chuyện tiếp theo về tổ chức lại nghề cá và bảo vệ nguồn lợi biển trong dài hạn.

Có thể bạn quan tâm

Lực lượng chức năng bắt giữ tàu giã cào tận diệt hải sản trên vùng biển Hà Tĩnh.

Nghề cá trước “lựa chọn tất yếu”

Dọc theo dải ven duyên hải miền trung, những chuyến tàu cá vẫn rời bến đều đặn mỗi ngày, nhưng phía sau nhịp lao động quen thuộc ấy vẫn còn tồn tại tình trạng khai thác thủy sản trái phép, thiếu bền vững ở một số địa phương.

Nhiều ngư dân miền trung đã chuyển từ khai thác hải sản kiểu tận diệt sang nghề nuôi biển.

Từ khai thác tận diệt sang nuôi biển ổn định

Khi nguồn lợi hải sản suy giảm, biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt và yêu cầu quản lý nghề cá ngày càng chặt chẽ, không ít ngư dân đã chủ động rời xa cách đánh bắt tận diệt, nhỏ lẻ để tìm đến một sinh kế bền vững mới: nuôi biển.

Việt Nam có nhiều làng biển lâu đời, gìn giữ được những nét văn hóa độc đáo. Ảnh: Huỳnh Phương

Phát huy giá trị của những vùng trầm tích

Quá trình đô thị hóa, phát triển du lịch đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến không gian làng chài, làng biển. Việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa làng biển trở nên cấp thiết trong đời sống đương đại. Nếu được gìn giữ, đây cũng là vốn quý để các địa phương gia tăng giá trị trong phát triển văn hóa, du lịch.

Nghi lễ rước nghinh thần trước biển tại lễ Cầu ngư, làng Nam Ô (thành phố Đà Nẵng). Ảnh: Trần Lê Lâm

Nơi gìn giữ, trao truyền niềm tin và ước vọng

Đối với ngư dân Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ, tục thờ Cá Ông, lễ hội Cầu ngư là những hoạt động văn hóa, tín ngưỡng gắn bó với nhiều sinh hoạt đời sống. Đặc biệt, lễ hội Cầu ngư hằng năm diễn ra với niềm tin và kỳ vọng vào một mùa bội thu, sóng yên biển lặng.

Ông Nguyễn Tấn Sâm (Bình Sơn, Quảng Ngãi) đảm nhận vai Tổng Tiền trong hát bả trạo. Ảnh: Như Đồng

Lưu giữ “hồn cốt” vùng đất, con người

Người dân vạn chài tỉnh Quảng Ngãi qua bao thăng trầm vẫn bám làng, gìn giữ nét văn hóa, trong đó hát bả trạo là loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian đặc trưng của ngư dân vùng ven biển.

Gian hàng trong cuộc thi “Ý tưởng, dự án khởi nghiệp trong thanh niên tỉnh Nghệ An” . Ảnh: Thanh Quỳnh

Những ý tưởng đã đi vào thực tiễn

Những năm qua, các tỉnh Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, làm giàu. Rất nhiều người trẻ đã tận dụng tốt cơ hội này, xây dựng thành công mô hình phát triển kinh tế tại địa phương.

Anh Nguyễn Thanh Bình (đứng giữa), Giám đốc Công ty TNHH Begen, giới thiệu về dây chuyền sản xuất bít-tất xuất khẩu.

Không ngại thử thách

Nhiều thanh niên ở Nghệ An rời quê hương, mang theo hoài bão lập nghiệp ở những thành phố lớn, đô thị sầm uất. Thế nhưng, cũng có không ít người chọn con đường nỗ lực lập nghiệp ngay tại mảnh đất nơi mình sinh ra.

Anh Nguyễn Mạnh Tường, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp sạch Hatisa (bên phải) giới thiệu sản phẩm. Ảnh: Ngọc Khánh

OCOP mang thương hiệu tuổi trẻ

Hà Tĩnh hiện có nhiều mô hình thanh niên khởi nghiệp sáng tạo, tham gia Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Các chủ thể đã tích cực thực hiện chuyển đổi số, nâng cao chất lượng, quảng bá thương hiệu, đồng thời giải quyết việc làm cho hàng nghìn người khác.

Bão số 10 và mưa lũ sau bão đã gây thiệt hại rất nặng nề về sinh kế tài sản, cơ sở hạ tầng tại các địa phương khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Gánh nặng sau thiên tai

Trong chưa đầy hai tháng, hai cơn bão số 5 (Kajiki) và số 10 (Bualoi) quét qua Bắc Trung Bộ đã gây thiệt hại khủng khiếp về người, nhà cửa, nông sản và hạ tầng, đẩy hàng chục nghìn hộ dân ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh vào cảnh mất trắng sinh kế.

Nông dân Hà Tĩnh nhanh chóng khôi phục đồng ruộng, gieo trồng lại để kịp vụ đông. (Ảnh: Ánh Nguyệt)

Từ khôi phục đến nâng cao năng lực chống chịu

Lũ rút, người dân Hà Tĩnh và Thanh Hóa tất bật khôi phục đồng ruộng, ao nuôi và lồng bè thủy sản... Những mô hình sản xuất bền vững, hợp tác xã hỗ trợ kỹ thuật, kết nối thị trường đang giúp nông dân không chỉ trồng lại cây, nuôi lại cá tôm, mà còn giữ vững sinh kế lâu dài, sẵn sàng ứng phó với thiên tai.

Người dân miền Tây Nghệ An bị thiệt hạ về lúa nặng do lũ lớn. (Ảnh: Nguyễn Phê)

Chủ động thích ứng

Nhà có thể dựng lại, nhưng sinh kế thì khó có thể phục hồi trong chốc lát. Sau bão, Bắc Trung Bộ đối diện khoảng trống dài hạn: làm thế nào để tiếp tục sống trên mảnh đất luôn xảy ra thiên tai.