Chưa xác định nguyên nhân trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ

Với rối loạn phổ tự kỷ, hiện các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân và hiện cũng chưa có phương pháp nào điều trị khỏi. Các biện pháp can thiệp giáo dục được chứng minh là có hiệu quả tốt nhằm giảm các triệu chứng rối loạn phổ tự kỷ, giúp trẻ học các kỹ năng quan trọng, nâng cao khả năng hòa nhập xã hội.
Nhiều trẻ tự kỷ có niềm đam mê với vẽ. (Ảnh: THẾ DƯƠNG)
Nhiều trẻ tự kỷ có niềm đam mê với vẽ. (Ảnh: THẾ DƯƠNG)

Các nhà khoa học chưa xác định rõ nguyên nhân tự kỷ ở trẻ

Trong số 30.000-35.000 lượt trẻ đến khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương mỗi năm, có khoảng 25-30% số lượt trẻ được chẩn đoán mắc rối loạn phát triển và khoảng 50-60% trong số rối loạn phát triển được được chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ. Con số này có xu hướng gia tăng thời gian gần đây.

Mỗi ngày, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp nhận khoảng 200 cháu bé đến khám. Hằng năm, Khoa Tâm thần còn can thiệp cho khoảng 250-300 lượt trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ.

Theo Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Mai Hương, Phó Trưởng khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương, hiện nay, nguyên nhân tự kỷ chưa được các nhà khoa học xác định rõ. Các nhà khoa học hiện nghiêng về yếu tố về gene và có sự tương tác với môi trường.

Theo bác sĩ nội trú Nguyễn Minh Quyết, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương, các yếu tố nguy cơ của rối loạn phổ tự kỷ: Tuổi bố mẹ cao với bố trên 40 tuổi, mẹ trên 35 tuổi khi sinh con; trẻ đẻ non tháng, thường dưới 32 tuần là yếu tố nguy cơ cao hơn; trẻ đẻ nhẹ cân, thường dưới 2.500 gram là yếu tố nguy cơ cao hơn mắc rối loạn phổ tự kỷ.

Ngoài ra, những trẻ ngạt sau sinh, chăm sóc tại hồi sức tích cực sơ sinh sau sinh, nhiễm khuẩn nặng sau sinh; gia đình có anh chị em ruột hoặc họ hàng được chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ, tâm thần phân liệt, động kinh; khoảng cách giữa các lần sinh quá xa nhau (thường ít nhất là 7 năm) hoặc quá gần nhau (dưới 24 tháng),… cũng là yếu tố nguy cơ của rối loạn phổ tự kỷ.

Theo Phó trưởng Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương Nguyễn Mai Hương, tự kỷ là rối loạn không thể phòng ngừa, chỉ có cách nâng cao nhận thức toàn xã hội chăm sóc cho những người mang thai, sau sinh hạn chế có thêm tổn thương.

Hiện tại, khi mạng xã hội phát triển, các mẹ có thể ở nhà tìm thông tin “bác sĩ google” để tìm hiểu về bệnh của con mình. Nhiều gia đình làm mẹo, không tin con mình có vấn đề, đến lúc trẻ 4-5 tuổi cho đi khám thì mất đi cơ hội vàng can thiệp.

Đặc biệt, nhiều cha mẹ hiểu lầm nguyên nhân tự kỷ do vaccine, nhưng thực tế không có mối liên quan nào giữa tiêm vaccine với trẻ có rối loạn phổ tự kỷ. Hoặc có ý kiến cho rằng do cha mẹ thiếu vắng sự quan tâm, ít thời gian chia sẻ với con cái, bận rộn làm kinh tế…

Bác sĩ Hương chia sẻ, trong số các trường hợp đến khám vì nghi con mình tự kỷ, có nhiều trẻ chỉ có ông bà đưa đi. Khi con được kết luận tự kỷ, các ông bà, bố mẹ sẽ có nhiều suy nghĩ cho rằng trẻ mắc tự kỷ vì thiếu vắng sự quan tâm của bố mẹ, không ai chơi cùng, xem tivi nhiều. Việc đổ lỗi giữa người lớn với nhau thường xuyên xảy ra.

Trong trường hợp này, bác sĩ Hương cho biết, các bác sĩ tại khoa luôn trao đổi với các gia đình rằng, các yếu tố về môi trường, gia đình chỉ làm nặng lên biểu hiện tự kỷ, chứ không phải nguyên nhân gây ra rối loạn phổ tự kỷ.

Can thiệp giáo dục có hiệu quả tốt cho trẻ tự kỷ

Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Minh Quyết, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương, hiện nay, chưa có phương pháp nào điều trị khỏi rối loạn phổ tự kỷ.

Các biện pháp can thiệp giáo dục được chứng minh là có hiệu quả tốt nhằm giảm các triệu chứng rối loạn phổ tự kỷ, giúp trẻ học các kỹ năng quan trọng, nâng cao khả năng hòa nhập xã hội.

Phối hợp đa ngành trong điều trị rối loạn này là điều vô cùng quan trọng. Trong đó, bác sĩ tâm thần nhi; bác sĩ nhi được đào tạo về chẩn đoán và điều trị rối loạn phát triển; bác sĩ phục hồi chức năng làm trưởng nhóm cùng với các nhà chuyên môn như cán bộ tâm lý lâm sàng, giáo viên giáo dục đặc biệt, nhà âm ngữ trị liệu, nhà hoạt động trị liệu, cộng tác viên công tác xã hội…

Một số thuốc có hiệu quả trong điều trị các vấn đề đi kèm ở trẻ như rối loạn tăng động giảm chú ý, rối loạn hành vi (tự làm đau, gây hấn,..), rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu, động kinh…

Các thuốc được chấp thuận điều chỉnh các rối loạn đi kèm này phải được kê bởi các bác sĩ chuyên khoa, như Risperidon, Aripiprazol, Clonidin, Methylphenidat, Melatonin, Fluoxetin, Sertralin, Valproat Natri, Oxcarbazepin…

Bác sĩ Quyết cũng cho biết thêm, các biện pháp khác như trị liệu âm nhạc, nghệ thuật, điều chỉnh chế độ ăn, thải độc, ghép tế bào gốc,… chưa có bằng chứng khoa học rõ rệt về hiệu quả trong can thiệp cho trẻ tự kỷ. Những phương pháp này chỉ có tác dụng hỗ trợ phần nào đó, hoặc rất hạn chế về hiệu quả.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.