Bốn kiên định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng với yêu cầu mới hiện nay

Chủ nghĩa Mác ra đời năm 1848 với bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895). Sau này V.I.Lênin phát triển Học thuyết đó và trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin.

Toàn cảnh phiên bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Toàn cảnh phiên bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Từ khi ra đời đến nay, trải qua thử thách của thời gian và biến đổi của thực tiễn với sự khảo nghiệm của nhiều cuộc cách mạng, trong đó có cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng tỏ rõ bản chất khoa học, cách mạng, chủ nghĩa nhân văn cao cả và tính hiện thực sâu sắc, mãi mãi soi sáng các Đảng cách mạng chân chính, các dân tộc, các giai cấp cần lao trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng, tạo dựng một xã hội tốt đẹp thật sự vì con người, đó là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Karl Marx, Friedrich Engels và V.I.Lênin đều nhấn mạnh nhân tố hàng đầu là phải xây dựng một Đảng Cộng sản, đội tiền phong của giai cấp và dân tộc thật sự cách mạng. Đảng đó phải có lý luận tiền phong soi đường. V.I.Lênin nêu rõ trong tác phẩm Làm gì? (1902) về vai trò đặc biệt của tư tưởng, lý luận: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng... chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”[1].

Trong hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã tiếp thụ lý luận cách mạng Mác-Lênin và tìm thấy ở học thuyết đó con đường cách mạng đúng đắn. Người ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thành lập một Đảng cách mạng. Người đặt vấn đề, cách mệnh trước hết phải có cái gì, trước hết phải có Đảng cách mệnh để tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng, bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”[2].

Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng không ngừng nâng cao trình độ lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng, chú trọng vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và những tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, đưa cách mạng và dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và có được cơ đồ và vị thế như ngày nay.

Suốt quá trình Đảng lãnh đạo và cầm quyền cũng đã phải trải qua những thách thức nặng nề trên mặt trận tư tưởng, lý luận, Đảng phải kiên cường đấu tranh, kiên định về lý luận tư tưởng để giữ vững bản chất cách mạng, khoa học, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Có 2 thời điểm cần phải hiểu rõ. Đó là những năm đầu thập niên 60, Trung ương Đảng khóa III và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết đấu tranh phê phán chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội trong các đảng, các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Đảng kiên định bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên chịu ảnh hưởng xấu của chủ nghĩa xét lại, cơ hội. Tháng 12/1963, Hội nghị Trung ương 9, khóa III đã ban hành Nghị quyết Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta. Nhờ kiên định lý luận Mác-Lênin, kiên định đường lối cứu nước và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc, Đảng đã đưa sự nghiệp độc lập, thống nhất đến toàn thắng 30/4/1975 và bước vào kỷ nguyên mới cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

Một thời điểm không bao giờ quên là những năm 1989-1991 khủng hoảng sâu sắc toàn diện dẫn đến sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến tổn thất lớn đó là sự phá hoại của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội và cả sự phản bội chính trị trong nội bộ các đảng, các nước đó. Để phòng, chống ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài, Trung ương Đảng khóa VI đã kịp thời đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới. Trung ương nhấn mạnh sự kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin; kiên định con đường xã hội chủ nghĩa; kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã dứt khoát lựa chọn từ năm 1930; kiên định sự lãnh đạo của Đảng, kiên quyết chống đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng. Nghị quyết Trung ương 6 khóa VI (3/1989) nhấn mạnh:

“Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin”. “Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và nhân dân ta. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”[3].

Nhờ những kiên định đó, giữ vững mặt trận tư tưởng, lý luận, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã vượt qua thử thách hiểm nghèo, đổi mới thành công với những thành tựu to lớn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 là đổi mới toàn diện đất nước cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế; hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Bốn mươi năm đổi mới, Việt Nam đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, thu nhập bình quân đầu người rất thấp, 150 USD năm 1986 trở thành nước đang phát triển, nền kinh tế thứ 32 trên thế giới, với thu nhập 5.000 USD/người năm 2025.

Thành công nổi bật của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết hợp đúng đắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Ngay từ đầu, Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ đổi mới kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân, tập thể, vốn đầu tư nước ngoài; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế với động lực to lớn của khoa học, công nghệ. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ gắn liền với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng bộ máy hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, thật sự vì dân; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.

Đại hội XIV của Đảng (tháng 1/2026) tổng kết nhiệm kỳ khóa XIII đồng thời tổng kết 40 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới và nêu rõ những bài học quý báu mang tầm lý luận, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước trong kỷ nguyên mới. Bài học hàng đầu là: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; lấy phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển bền vững, không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân...”[4]. Cần nhấn mạnh rằng, kiên định học thuyết lý luận, tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng và đường lối đúng đắn đã đề ra, thực hiện đổi mới có nguyên tắc là sự bảo đảm căn bản cho thành công của đổi mới, bảo đảm đổi mới đúng mục tiêu, không chệch hướng, kiên định luôn luôn gắn liền với vận dụng và phát triển sáng tạo, không phát triển sáng tạo trong nhận thức và hành động không thể có thành công. Vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với sự phát triển của thực tiễn và trên cơ sở nghiên cứu lý luận, nắm vững quy luật khách quan. Khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí, bảo thủ, trì trệ, không dám làm, không dám đổi mới sáng tạo để phát triển.

Bốn kiên định mà Đại hội XIV của Đảng đã tổng kết tiếp tục là định hướng cho sự phát triển lâu dài của đất nước trong kỷ nguyên mới và là nội dung căn bản, toàn diện của công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV (25/3/2026), Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu rõ 4 kiên định và nhấn mạnh vai trò rất quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng và toàn xã hội. “Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”[5].

Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV quyết nghị ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, là sự cụ thể hóa “Bốn kiên định” mà Đại hội XIV đã tổng kết và Trung ương đã định hướng; Bốn kiên định đã bảo đảm thành công trong lịch sử, nhất định và chắc chắn là định hướng đúng, tạo động lực và niềm tin mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước hiện nay và trong tương lai. Bốn kiên định là quyết tâm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ lý tưởng, mục tiêu chiến lược của cách mạng; bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

[1] Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1975, tập 6, trang 30, 32.

[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 2, trang 289.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007, tập 49, trang 591.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2026, tập I, trang 73.

[5] Báo Nhân Dân, số 25697, 26/3/2026, trang 1-2.

Có thể bạn quan tâm

Chiều 29/1/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Đưa quan hệ giữa Việt Nam với EU và Bỉ lên bước phát triển mới

Nhận lời mời của Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa và Thủ tướng Vương quốc Bỉ Bart De Wever, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Bỉ.

Tạo bước chuyển mạnh mẽ cho hợp tác Việt Nam-Thụy Sĩ

Tạo bước chuyển mạnh mẽ cho hợp tác Việt Nam-Thụy Sĩ

Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân, Tổng thống Liên bang Thụy Sĩ Guy Parmelin và Phu nhân thăm chính thức Việt Nam từ ngày 17-18/10. Chuyến thăm góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ chính trị, thúc đẩy hợp tác thực chất, đưa quan hệ Việt Nam-Thụy Sĩ bước sang giai đoạn phát triển mới.

Xung lực mới thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với Lào, Campuchia

Xung lực mới thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với Lào, Campuchia

Nhận lời mời của Thủ tướng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Saleumxay Kommasith và Thủ tướng Vương quốc Campuchia Hun Manet, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia từ ngày 8 đến 10/10.

Quan chức Chính phủ Canada và cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại sân bay quốc tế Ottawa Mcdonald-Cartier. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Mở ra chương phát triển mới trong quan hệ Việt Nam-Canada

Nhận lời mời của Toàn quyền Canada Louise Arbour, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Canada.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Khẳng định bản lĩnh ngoại giao và tầm nhìn hội nhập của Việt Nam

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam ngày 20/9 lên đường tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và hoạt động song phương tại Hoa Kỳ.

Thủ tướng Lê Minh Hưng. (Ảnh: Trần Hải)

Thông điệp về đóng góp tích cực, có trách nhiệm của Việt Nam với cộng đồng quốc tế

Nhận lời mời của Thủ tướng Cộng hòa Ấn Độ Narendra Modi, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới (BRICS) lần thứ 18 và làm việc song phương tại Ấn Độ từ ngày 12 đến 13/9/2026.

Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam, ngày 26/5/2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Tiếp thêm động lực mạnh mẽ cho quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Pháp

Nhận lời mời của Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, Pháp.

Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Toàn quyền Australia Sam Mostyn trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 9-12/9/2025. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Tạo xung lực mạnh mẽ nâng tầm quan hệ Việt Nam-Australia

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tiếp thêm động lực mạnh mẽ để hai nước chuyển hóa những cam kết chính trị thành chương trình hợp tác cụ thể, góp phần đưa quan hệ Việt Nam-Australia vươn lên tầm cao mới.