Bộ Y tế lên tiếng về vướng mắc thanh toán bảo hiểm y tế kỹ thuật X-quang dưới 6 phút

Bộ Y tế đề nghị Bộ Tài chính không sử dụng thông số thời gian trong các hướng dẫn quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, điện quang làm căn cứ giám định, từ chối thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Chụp X-quang sàng lọc bệnh lao cho người dân. (Ảnh: BVCC)
Chụp X-quang sàng lọc bệnh lao cho người dân. (Ảnh: BVCC)

Bộ Y tế vừa có văn bản gửi Bộ Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng tài liệu chuyên môn Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp thuộc chương Điện quang

Bộ Y tế cho biết, ngày 29/8/2025, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 2775/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về chẩn đoán hình ảnh thuộc chương Điện quang-Tập 1" (gồm 322 quy trình kỹ thuật); Quyết định số 2776/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về điện quang can thiệp thuộc chương Điện quang-Tập 1" (gồm 233 quy trình kỹ thuật).

Các tài liệu nêu trên được xây dựng nhằm chuẩn hóa thực hành chuyên môn, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và bảo đảm an toàn người bệnh trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp.

Trong quá trình triển khai, Bộ Y tế nhận được phản ánh của một số địa phương, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về việc cơ quan bảo hiểm xã hội sử dụng thời gian thực hiện dịch vụ kỹ thuật quy định trong các tài liệu hướng dẫn kèm theo Quyết định số 2775/QĐ-BYT và 2776/QĐ-BYT làm căn cứ để từ chối thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế, trong trường hợp thời gian thực hiện không đạt mức thời gian quy định trong quy trình (thí dụ: chụp X-quang dưới 6 phút, siêu âm tim dưới 30 phút theo một số quy trình cụ thể).

Thời gian trong quy trình chỉ mang tính tham chiếu

Để bảo đảm thực hiện thống nhất, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với thực tiễn chuyên môn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tham gia bảo hiểm y tế cũng như cơ sở khám, bệnh chữa bệnh, Bộ Y tế có ý kiến như sau:

Về ý nghĩa và cách hiểu của thông số thời gian trong hướng dẫn quy trình kỹ thuật, theo Bộ Y tế thông số thời gian quy định trong các hướng dẫn quy trình kỹ thuật ban hành kèm theo Quyết định số 2775/QĐ-BYT và 2776/QĐ-BYT là thời gian trung bình mang tính tham chiếu, được xây dựng trên cơ sở thực hành chuyên môn phổ biến tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nhằm phục vụ việc chuẩn hóa thực hành kỹ thuật, bảo đảm an toàn người bệnh và chất lượng chuyên môn.

Thông số thời gian nêu trên được sử dụng với mục đích hướng dẫn chuyên môn, không nhằm xác lập điều kiện pháp lý bắt buộc hoặc tiêu chí định lượng cứng để làm căn cứ duy nhất trong việc giám định, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Thời gian được ghi nhận trên các hệ thống kỹ thuật như PACS, file DICOM hoặc nhật ký thiết bị chỉ phản ánh một phần của quá trình kỹ thuật, chủ yếu là thời gian vận hành thiết bị (thời gian phát tia, quét máy hoặc thời gian siêu âm trực tiếp), không phản ánh đầy đủ toàn bộ thời gian thực hiện quy trình kỹ thuật (xác nhận đúng người bệnh, hướng dẫn tư thế, hỏi bệnh, tiền sử, đối chiếu kết quả đã có, giải thích, tư vấn, đọc và nhận định kết quả... và chuyển kết quả lên hệ thống.

Việc sử dụng riêng lẻ thông số thời gian ghi nhận từ thiết bị để so sánh, đối chiếu với thông số thời gian trong hướng dẫn quy trình kỹ thuật và làm căn cứ từ chối thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là không đúng với quy trình kỹ thuật.

Thời gian thực hiện thực tế của dịch vụ kỹ thuật có thể thay đổi tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng của người bệnh, yêu cầu chuyên môn cụ thể, trình độ nhân lực, điều kiện cơ sở vật chất và mức độ tự động hóa của thiết bị tại từng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Giám định bảo hiểm y tế phải dựa trên hồ sơ và thực tế dịch vụ

Về nguyên tắc giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với dịch vụ kỹ thuật thuộc chương Điện quang, Bộ Y tế cho biết, việc giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với các dịch vụ kỹ thuật thuộc chương Điện quang không căn cứ vào thông số thời gian quy định trong các hướng dẫn quy trình kỹ thuật ban hành kèm theo Quyết định số 2775/QĐ-BYT và 2776/QĐ-BYT.

Việc giám định, thanh toán được thực hiện trên cơ sở đánh giá tổng thể hồ sơ bệnh án và thực tế cung cấp dịch vụ, trong đó xem xét đầy đủ: Sự phù hợp của chỉ định dịch vụ kỹ thuật với tình trạng lâm sàng của người bệnh; Việc tuân thủ các bước chuyên môn chủ yếu của quy trình kỹ thuật; Giá trị sử dụng và ý nghĩa lâm sàng của kết quả kỹ thuật trong chẩn đoán, điều trị; Điều kiện thực tế về nhân lực, trang thiết bị và tổ chức thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, việc thanh toán, quyết toán một số dịch vụ kỹ thuật như: Chụp X-quang thường, chụp X-quang số hóa, chụp CT Scanner đến 32 dãy, siêu âm, chụp cộng hưởng từ (MRI), giữa cơ quan bảo hiểm xã hội và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được quy định tại khoản 6 Điều 4d Thông tư số 35/2016/TT-BYT ngày 28/9/2016 của Bộ trưởng Y tế ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với dịch vụ kỹ thuật y tế thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 50/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Thông tư số 13/2020/TT-BYT và Thông tư số 39/2024/TT-BYT ngày 17/11/2024 của Bộ trưởng Y tế.

Trường hợp phát hiện dấu hiệu tăng cao bất thường, hoặc lạm dụng dịch vụ kỹ thuật, cơ quan bảo hiểm xã hội phối hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và cơ quan quản lý nhà nước về y tế tại địa phương để kiểm tra, xác minh theo đúng thẩm quyền và trình tự pháp luật.

Bộ Y tế đề nghị Bộ Tài chính quan tâm, chỉ đạo cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện giám định, thanh toán theo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt không sử dụng thông số thời gian trong hướng dẫn quy trình kỹ thuật chương Điện quang để giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bảo đảm quyền lợi của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.

Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh bằng văn bản về Bộ Y tế để xem xét, giải quyết.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.