Bệnh nhân nam mất thị lực mắt trái sau khi tiêm chất làm đầy để trẻ hóa

Sau khi tiêm chất làm đầy (filler) thế hệ mới xóa nhăn trán tại một spa tư nhân do người quen giới thiệu, bệnh nhân nam, 45 tuổi phải nhập viện cấp cứu trong tình trạng mất hoàn toàn thị lực mắt trái.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hà -Trưởng Khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ khám cho bệnh nhân.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hà -Trưởng Khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ khám cho bệnh nhân.

Đây là một trong những biến chứng nghiêm trọng và hiếm gặp của tiêm filler, có thể dẫn đến mù vĩnh viễn không thể cứu chữa do thành phần của filler đã thay đổi kết hợp với 1 loại chất làm đầy mới.

Theo lời kể của người bệnh, do là nam giới, anh không có thói quen tìm hiểu về thẩm mỹ và cũng không được spa tư vấn rõ ràng về các nguy cơ. Người thực hiện chỉ nói rằng “tiêm dưới da rất đơn giản”. Tin tưởng vì người quen từng làm rồi giới thiệu, anh đã đồng ý tiêm filler trẻ hóa (xóa nhăn) vùng trán. Tuy nhiên, chỉ sau 2-3 mũi tiêm, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng đau buốt dữ dội vùng trán, mắt trái mờ nhanh, sau đó mất thị lực. Anh lập tức yêu cầu dừng tiêm và đến bệnh viện cấp cứu.

Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, nhận định đây là trường hợp tối khẩn cấp, các bác sĩ đã kích hoạt quy trình cấp cứu liên chuyên khoa gồm: phẫu thuật hàm mặt-tạo hình thẩm mỹ, gây mê-hồi sức, can thiệp mạch, chẩn đoán hình ảnh.

Đồng thời, bệnh viện đã mời chuyên gia từ Bệnh viện Mắt Trung ương cùng phối hợp hội chẩn. Kết quả xác định bệnh nhân bị tắc động mạch trung tâm võng mạc mắt trái - một biến chứng nặng nề do tiêm filler sai kỹ thuật.

Người bệnh được điều trị tích cực bằng thuốc giãn mạch, kháng viêm, chống tắc mạch và các can thiệp chuyên sâu tại mắt. Ngay sau khi các bác sĩ tiêm thuốc giải thông thường một thời gian ngắn, thị lực bệnh nhân đã có dấu hiệu cải thiện, bệnh nhân dần nhìn thấy ánh sáng.

Tuy nhiên, sự hồi phục chỉ kéo dài 1 thời gian ngắn, những giờ tiếp theo, thị lực bệnh nhân gần như không cải thiện nữa mà tiếp tục kém đi nghiêm trọng, mặc dù các bác sĩ đã hết lòng cố gắng trong nhiều giờ đồng hồ tiếp theo.

Đến nay, khả năng hồi phục thị lực của bệnh nhân gần như rất khó khăn.

Đến nay, khả năng hồi phục thị lực của bệnh nhân gần như rất khó khăn.

Đến nay, khả năng hồi phục thị lực của bệnh nhân gần như rất khó khăn. Tuy nhiên, do được xử lý điều trị tương đối kịp thời nên các bác sĩ vẫn bảo tồn được chức năng vận động mắt và cơ nâng mi hoạt động bình thường, tổ chức da, cơ quanh nhãn cầu hồi phục gần như bình thường, không ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ, hoạt cũng như khả năng hòa nhập xã hội của người bệnh.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hà - Trưởng Khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ, loại filler được sử dụng trong trường hợp này là hỗn hợp filler tiêu chậm kết hợp giữa 2 loại filler, 1 loại có thể có chất giải tiêm tan được (acid hyaluronic), và 1 loại không có thuốc giải để tiêm tan được. Chính vì vậy khi xảy ra tai biến, biến chứng, việc tiêm thuốc giải thông thường chỉ làm tan được phần chất làm đầy có thể tan, còn phần chất làm đầy không có thuốc giải thì vẫn còn đó và gây ra các biến chứng không thể cứu chữa được.

Đặc biệt, các đối tượng không có chuyên môn thường lầm tưởng đây là các sản phẩm an toàn không gây tắc mạch, nên có thể tiêm ở khắp mọi vùng cơ thể.

Tuy nhiên, vùng trán, sống mũi, quanh mắt là những vị trí có hệ mạch máu nối trực tiếp với động mạch mắt, khi tiêm filler sai kỹ thuật, dùng lực mạnh hoặc dùng loại filler không phù hợp, chất làm đầy có thể xâm nhập vào lòng mạch, gây tắc mạch võng mạc, và cả các mạch cho cơ, mỡ và tổ chức quanh nhãn cầu, có thể xảy ra tình trạng nhiễm trùng, u mủ, hoại tử mô.

Đây là biến chứng đáng báo động, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng, có thể không hồi phục nếu xử trí chậm. Trường hợp trên tiếp tục là lời cảnh báo nghiêm khắc về việc làm đẹp thiếu an toàn.

Theo bác sĩ Hà, các thủ thuật tiêm filler bắt buộc phải do bác sĩ chuyên khoa được đào tạo bài bản về tạo hình thẩm mỹ, về giải phẫu vùng mặt và kỹ thuật tiêm thực hiện. Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ phải trải qua tối thiểu 3 năm đào tạo chuyên sâu để nắm chắc các nguy cơ và cách xử trí khi có biến chứng xảy ra.

Có thể bạn quan tâm

Người dân tìm hiểu thông tin về chế độ dinh dưỡng dành cho người mắc các bệnh không lây nhiễm tại cơ sở khám, chữa bệnh. (Ảnh: VÂN VÂN)

Phòng bệnh sớm từ chế độ ăn uống

Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng ngày càng tăng do các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp… Xu hướng này thường gắn với thói quen ăn uống không lành mạnh, nhất là việc sử dụng nhiều muối, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ uống có đường của người dân.

Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan trao Quyết định và tặng hoa chúc mừng Quỹ Phòng bệnh. (Ảnh: LÊ HẢO)

Quỹ Phòng bệnh chính thức ra mắt đi vào hoạt động

Ngày 20/8, Quỹ Phòng bệnh (Bộ Y tế) - một quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập giúp huy động, quản lý và phân bổ hiệu quả các nguồn lực hợp pháp, bổ sung kịp thời cho những khoảng trống mà ngân sách nhà nước chưa đáp ứng đủ cho công tác phòng bệnh chính thức ra mắt.

Các bác sĩ thực hiện ca can thiệp. (Ảnh: SỸ HIẾU)

Nắn chỉnh kín và cố định xương bằng đinh nội tủy đàn hồi cho cháu bé bị gãy xương cánh tay

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội (cơ sở Linh Đàm) vừa xử lý nắn chỉnh kín và cố định xương bằng đinh nội tủy đàn hồi qua hai đường rạch da khoảng 5mm, giúp cháu bé hạn chế bóc tách mô mềm, bảo tồn tối đa màng xương, nguồn cấp máu và vùng sụn tăng trưởng của trẻ.

Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y trao Bằng khen của Bộ trưởng Quốc phòng tặng Bộ môn-Khoa Thận và Lọc máu. (Ảnh: TUẤN DŨNG)

Nâng cao toàn diện chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển kỹ thuật chuyên sâu trong điều trị bệnh lý về thận

Ngày 20/8, tại Hà Nội, Bộ môn-Khoa Thận và Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân y) tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày truyền thống (21/8/2006-21/8/2026) và đón nhận Bằng khen của Bộ trưởng Quốc phòng. Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y dự và chúc mừng đơn vị.

Ê-kíp các bác sĩ Bệnh viện K thực hiện phẫu thuật cho người bệnh. (Ảnh: BVCC)

Phẫu thuật thay toàn bộ xương đùi, giữ lại chân cho bệnh nhân bị ung thư xương

Với người bệnh 59 tuổi, việc đối diện với căn bệnh ung thư xương, nguy cơ phải cắt bỏ toàn bộ xương đùi là một thách thức rất lớn về cả sức khỏe và tâm lý. Do đó, cân nhắc phương án phẫu thuật loại bỏ tổn thương mà vẫn giữ được đôi chân là mong muốn của cả ê-kíp bác sĩ và gia đình người bệnh.

Cán bộ y tế tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi chủ động dự phòng, sàng lọc để đẩy lùi bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung. (Ảnh: ĐỖ THỦY)

Phát hiện sớm để điều trị hiệu quả

Ung thư vú, ung thư cổ tử cung là hai bệnh tác động tiêu cực đối với sức khỏe phụ nữ, chiếm tỷ lệ mắc mới và tử vong cao trong nhóm ung thư ở nữ giới. Tuy nhiên, nếu được dự phòng và phát hiện sớm bằng các biện pháp sàng lọc hiệu quả, đều có thể giảm tỷ lệ tử vong vì căn bệnh nêu trên.

Tổn thương do giun rồng. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Thêm một ca giun rồng được phát hiện tại Việt Nam

Bệnh viện Đặng Văn Ngữ vừa tiếp nhận bệnh nhân nam 49 tuổi ở Lào Cai, có 2 tổn thương trên cẳng tay trái. Trước khi đến viện, người bệnh đã được người nhà kéo ra hai đoạn giun màu trắng dài khoảng 10-20cm. Đây là trường hợp mắc giun rồng thứ 44 được ghi nhận tại Việt Nam từ năm 2020 đến nay.

Bệnh nhân bình phục sức khỏe và được ra viện sáng 19/8.

Một tháng nguy kịch do Covid-19, bệnh nhân được cứu sống nhờ can thiệp ECMO

Mắc Covid-19 biến chứng ARDS, sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, nam bệnh nhân 43 tuổi từng ở trong tình trạng nguy kịch, phải thở máy, lọc máu và sử dụng ECMO. Sau gần một tháng hồi sức tích cực với nhiều kỹ thuật chuyên sâu tại Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), bệnh nhân đã hồi phục, được cai máy thở và xuất viện sáng 19/8.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia chia sẻ tại hội thảo. (Ảnh thiết kế bởi AI)

Bữa ăn của người Việt đang “dư năng lượng, thiếu vi chất”

Dù lượng muối tiêu thụ trung bình của người Việt đã giảm từ 9,42g/ngày năm 2015 xuống 8,07g/ngày năm 2021, mức này vẫn cao khoảng 1,6 lần khuyến nghị của WHO. Trong khi đó, tiêu thụ đồ uống có đường tăng tới 350% trong 15 năm, cho thấy những thách thức lớn trong thay đổi thói quen ăn uống và phòng ngừa bệnh không lây nhiễm.