13 triệu người mang gen thalassemia, cảnh báo hôn nhân cận huyết thống

NDĐT- Tỷ lệ người mang gen bệnh thalassemia ở đồng bào dân tộc Kinh khoảng 7% nhưng tỷ lệ này ở các đồng bào dân tộc miền núi khá cao, từ 20-40%. Hôn nhân cận huyết thống là một trong những lý do chính khiến cho tỷ lệ người dân tộc thiểu số mang gen thalassemia cao, giảm sút chất lượng giống nòi.

Những bệnh nhi mắc bệnh thalassemia phải truyền máu, thải sắt hằng tháng.
Những bệnh nhi mắc bệnh thalassemia phải truyền máu, thải sắt hằng tháng.

Hôn nhân cận huyết thống gia tăng nguy cơ trẻ mắc bệnh thalassemia

Việt Nam hiện có khoảng 13 triệu người, tương đương 13% dân số mang gen bệnh tan máu bẩm sinh. Trong đó, tỷ lệ người dân đồng bào dân tộc miền núi chiếm tỷ lệ khá cao, từ 20-40%.

Theo TS Bạch Quốc Khánh, Viện trưởng Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, mỗi năm có khoảng hơn 8.000 trẻ em sinh ra bị bệnh thalassemia, trong đó khoảng hơn 2.000 trẻ bị bệnh nặng.

Riêng sáu dân tộc chủ yếu ở miền núi phía Bắc như Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao và H’Mông thì tỷ lệ mang gen và mắc bệnh khá cao như: 26,1% ở dân tộc Tày; 25,5% ở dân tộc Dao, 24,7% ở dân tộc Nùng… Đặc biệt, tại Sơn La, dân tộc Xinh Mun có tỷ lệ mang gen rất cao, lên tới hơn 80%. Tại các địa bàn này, ước tính mỗi năm, khoảng 100.000 trẻ ra đời thì có khoảng 250 trường hợp thai nhi bị phù (không thể sống), khoảng 200 trẻ bị bệnh ở mức độ trung bình đến nặng - là những bệnh nhân sẽ phải điều trị cả đời.

Nói về lý do tỷ lệ người dân mang gen thalassemia ở vùng miền núi, đặc biệt là ở các đồng bào dân tộc thiểu số cao, TS Bạch Quốc Khánh cho biết, một trong những nguyên nhân chính là do kết hôn cận huyết. “Thói quen hôn nhân cận huyết hoặc chỉ lấy người trong cộng đồng của mình khiến tỷ lệ sinh ra các cháu bé mắc bệnh cao. Nếu hai người mang gen gặp nhau khả năng sinh ra trẻ bị bệnh là 25%”, TS Khánh nói.

Đặc biệt, với dân tộc ít người Xinh Mun, nếu không có biện pháp can thiệp sớm, thông qua những buổi nói chuyện, giáo dục giới tính và tuyên truyền để họ kết hôn với các dân tộc khác có người khỏe mạnh để giảm dần sự lưu cữu của gen tan máu bẩm sinh trong cộng đồng, thì dân tộc này có nguy cơ đối diện với khả năng mất dần giống nòi khỏe mạnh.

Tương lai nào cho một thế hệ trẻ không mang bệnh thalassemia

Theo TS Bạch Quốc Khánh, việc tuyên truyền, giáo dục sớm là việc đòi hỏi sự vào cuộc của mỗi địa phương cả trong công tác y tế, dân số, giáo dục… Vì thế, vấn đề chính hiện nay để giảm tỷ lệ người sinh ra mắc bệnh thalassemia là cần chương trình tổng thể mang tầm quốc gia về tan máu bẩm sinh do Chính phủ đầu tư, xây dựng và triển khai thực hiện, trong đó có sự phối hợp của nhiều ngành chứ không chỉ riêng dân số, y tế.

TS Bạch Quốc Khánh, Viện trưởng Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương.

Việc trước mắt là cần có một Thông tư với bên Tổng cục Dân số để yêu cầu các cơ sở y tế triển khai sàng lọc trước sinh/sơ sinh và sàng lọc trước hôn nhân. Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượng dân số tại các vùng miền núi ở đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn vì người dân ở phân tán.

“Khó khăn nhất để giảm tỷ lệ mắc bệnh là làm cho cộng đồng nhận thức được mình mang gen hay không vì khi đã mang gen có thể sinh ra những cháu bé bị bệnh. Tôi nghĩ quan trọng nhất là phải đưa nội dung này vào chương trình giáo dục sức khỏe của học sinh phổ thông, thậm chí đưa vào các chương trình sinh hoạt ngoại khoá của sinh viên - lứa tuổi tiền hôn nhân. Khi họ hiểu được, họ sẽ đi làm xét nghiệm xem bản thân có mang gen không thì những chuyện khác sẽ được giải quyết, sẽ giảm được các cháu bị bệnh”, TS Khánh nhấn mạnh.

Hiện tại, Viện Huyết học - truyền máu Trung ương đang xây dựng văn bản pháp luật liên quan đến sàng lọc trước sinh, sơ sinh và tiến tới sàng lọc trước hôn nhân. Viện cũng đang phối hợp với ngành y tế một số tỉnh có đồng bào dân tộc mang gen thalassemia cao để tổ chức tập huấn, tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.

Nếu được sàng lọc tiền hôn nhân, những cặp vợ chồng mang gen bệnh vẫn quyết tâm lấy nhau, họ sẽ được tư vấn sát sao trước khi quyết định sinh con. Tại Hà Nội, một số cơ sở sản phụ khoa đã tiến hành chẩn đoán trước chuyển phôi, khi thụ tinh nhân tạo sẽ lựa chọn những phôi chỉ mang gen hoặc phôi không bị bệnh để cấy buồng tử cung, giảm bớt nguy cơ đình chỉ thai nghén khi thai đã 14 - 20 tuần.

Hiện nay, biện pháp điều trị khỏi căn bệnh tan máu bẩm sinh là ghép tế bào gốc bằng cuống máu dây rốn hoặc ghép nửa hòa hợp (bằng tế bào gốc của bố mẹ). Kỹ thuật này đang được triển khai tại Việt Nam nhưng chỉ định ghép vô cùng chặt chẽ vì một người bệnh thalassemia nếu được phát hiện và điều trị sớm vẫn có cuộc sống bình thường.

TS Khánh cho biết, trong tương lại, Viện Huyết học - truyền máu Trung ương sẽ triển khai hướng điều trị bằng liệu pháp gen, ghép cho cháu bé có gen bị thiếu. Nếu ghép gen trị liệu được triển khai, thì tỷ lệ thành công cao hơn ghép tế bào gốc máu đồng loài. Hiện tại, Viện đang xúc tiến hợp tác với một số trung tâm ở Mỹ đã triển khai thành công kỹ thuật ghép này để tiến hành chuyển giao công nghệ.

Có thể bạn quan tâm

Nhân viên y tế nhập liệu hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân.

Tây Ninh đẩy mạnh số hóa, thu hút nhân lực y tế

Ngày 4/5, Sở Y tế tỉnh Tây Ninh thông tin, tính đến hết quý I/2026, toàn tỉnh đã tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử cho gần 3,1 triệu người, đạt tỷ lệ 96,94%, vượt xa mục tiêu đề ra. Song song đó, bệnh án điện tử đã được triển khai tại 4 bệnh viện, giúp giảm thiểu giấy tờ, nâng cao khả năng lưu trữ và chia sẻ dữ liệu y tế.

[Video] Sự thật về nhịn ăn trước khi chụp CT

[Video] Sự thật về nhịn ăn trước khi chụp CT

Liệu có cần nhịn ăn tuyệt đối trước khi chẩn đoán hình ảnh hay có khung giờ nào là tốt nhất để chụp chiếu hiệu quả tốt nhất? Hãy cùng nghe tư vấn từ Bác sĩ để giải đáp cho thắc mắc này.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Như Hải, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) hướng dẫn sinh viên về thực hành lâm sàng răng hàm mặt.

Đổi mới đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành y tế

Đào tạo bác sĩ nội trú cũng là một hệ đào tạo đặc thù của khối ngành sức khỏe. Trong bối cảnh cả ngành y tế cũng như giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, thì việc đào tạo đội ngũ nhân lực này cũng cần phải có những thay đổi.

Bệnh nhân H. và 2 gói thuốc đông y gia truyền giả bị lừa mua.

Cẩn trọng với thuốc đông y gia truyền giả

Thời gian gần đây, nhiều vụ việc sản xuất, kinh doanh thuốc đông y giả liên tục bị cơ quan chức năng phát hiện và thu giữ. Sản phẩm được quảng cáo là thuốc đông y gia truyền có tác dụng chữa bách bệnh, kể cả ung thư, nhưng bên trong lại chứa chất cấm.

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.