Các thiếu nữ Mảng (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Dân tộc Mảng

NDO - Sống trải dài trên vùng biên giới phía bắc nước ta, dù là một trong 16 dân tộc rất ít người tại Việt Nam, dân tộc Mảng vẫn giữ gìn được văn hóa truyền thống đặc sắc.

1. Nguồn gốc lịch sử

Xưa nay vùng Nặm Ban (Dum Bai) thuộc xã Nặm Ban, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu vẫn được gọi là "quê hương" của người Mảng. Người Mảng là một trong những dân cư bản địa ở vùng Tây Bắc.

Tên tự gọi: Mảng.

Tên gọi khác: Mảng Ư, Xá Mảng, Niểng O, Xá Bá O.

Nhóm địa phương: Mảng Gứng, Mảng Hệ.

Dân tộc Mảng ảnh 1

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

2. Dân số:

Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019: Dân tộc Mảng có 4.650 người, trong đó dân số nam: 2.313 người, dân số nữ: 2.337 người. Quy mô hộ: 4,8 người/hộ. Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 97,4%.

3.Phân bố địa lý:

Tập trung ở tỉnh Lai Châu, trải dài trên vùng biên giới phía bắc, giáp ranh với Trung Quốc.

4. Ngôn ngữ:

Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam - Á). Theo khảo sát của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu, người Mảng bảo tồn tiếng nói khá tốt, 100% người dân sử dụng tiếng nói của dân tộc mình trong sinh hoạt hằng ngày. Khi giao tiếp với bên ngoài, một số người có thể sử dụng tiếng phổ thông, tiếng Thái, tiếng Hà Nhì và tiếng Hmông.

Giáo dục: Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019: Tỷ lệ người Mảng từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông: 46,2%; Tỷ lệ người đi học chung cấp tiểu học: 104,3%; Tỷ lệ người đi học chung cấp trung học cơ sở: 88,9%; Tỷ lệ người đi học chung cấp trung học phổ thông: 38,8%; Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường: 14,3%.

Dân tộc Mảng ảnh 2
Múa giã gạo mừng nhà mới trong Lễ vào nhà mới của một gia đình người Mảng (Ảnh: Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam)

5. Đặc điểm chính:

Ăn: Người Mảng ăn 2 bữa (trưa-tối), ngô là lương thực chính, ngô trộn sắn hoặc trộn với ít gạo đồ lên. Lá sắn non đồ muối là thức ăn gần như quanh năm của người Mảng. Họ ưa hút thuốc lào, uống rượu trắng.

Trang phục: Nét độc đáo trong y phục phụ nữ Mảng là tấm choàng quấn quanh thân được cắt may bằng vải thô màu trắng, ở giữa thêu hàng chỉ đỏ. Ðầu để trần, tóc buộc thành chỏm trên đầu bằng dây có tua khá đẹp, chân quấn xà cạp.

Tục xăm mặt: Trước kia cả phụ nữ và đàn ông Mảng đều phải xăm mặt O ăm (còn gọi là xăm mồm hay xăm cằm). Đây là nghi lễ thành đinh bắt buộc khi con trai, con gái đến tuổi trưởng thành (con trai từ 16 - 18 tuổi, con gái từ 15 - 16 tuổi), với mục đích chính là được cộng đồng công nhận là thành viên chính thức. Nhờ có hình xăm trên mặt mà sau khi chết đi, tổ tiên ở trên trời mới nhận ra là người trong cùng dòng họ và mới cho hồn trú ngụ cùng.

Dân tộc Mảng ảnh 3

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Quan hệ xã hội: Người đứng đầu tổ chức xã hội truyền thống là Pơgia. Tổ chức Bản (Muy) vẫn duy trì theo tập quán truyền thống. Bản có trưởng bản trông coi về thu thuế tạp dịch. Trong bản thường có một dòng họ lớn, các trưởng họ cùng với hội đồng già làng điều hành mọi hoạt động xã hội, tôn giáo theo tập quán. Người Mảng có 5 họ chính, mỗi họ lấy một con vật làm vật tổ.

Nhà ở: Mặc dù nhà người Mảng rất tạm bợ, nhưng từ khâu chọn đất, san nền, dựng cột cho đến lợp đều phải nhờ thầy bói xem ngày, giờ rồi mới tiến hành dựng nhà. Lễ này gồm nhiều đặc trưng nghi lễ phức tạp thể hiện đặc trưng tộc người.

Lễ Tết: Ngoài tết Nguyên đán ra, người Mảng ăn tết Cơm mới sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Hàng năm, dân bản còn cúng ma bản và ma nhà để yêu cầu yên. Ðặc biệt ở họ tồn tại hàng loạt nghi lễ liên quan đến nông nghiệp: lễ gieo nương; cúng hồn lúa, mẹ lúa; cúng sau vụ thu hoạch...

Dân tộc Mảng ảnh 4
Trong đám cưới người Mảng, bà con bôi nhọ nồi, bùn vào nhau để cầu may mắn. (Ảnh: Báo Lai Châu)

Thờ cúng: Ma nhà được cúng vào dịp tết hoặc khi trong nhà có người đau ốm. Người Mảng tin có nhiều ma, trong đó ma nhà có vị trí đặc biệt quan trọng. Bên cạnh đó họ cũng thờ ma Ðẳm- tổ tiên, dòng họ.

Văn nghệ: Làn điệu dân ca "xoỏng" được nhiều người biết và ưa thích. Ngày nay, người Mảng còn lưu giữ truyền thuyết kể về vùng đất tổ của mình đó là Muăng Buăng, một địa điểm trên sườn núi thuộc xã Nậm Ban, huyện Sìn Hồ (nay thuộc huyện Nậm Nhùn).

6. Điều kiện kinh tế:

Sản xuất nông nghiệp nương rẫy là phương thức sinh sống chủ yếu của người Mảng. Trước đây người Mảng chăn nuôi tiểu gia súc, sau này là đại gia súc; nghề đan lát đặc biệt phát triển, đạt đến trình độ tinh xảo, trong khi nghề dệt không phát triển; các sản phẩm đan lát chủ yếu đem trao đổi với người Thái để lấy các sản phẩm may mặc. Ngoài ra, nghề khâu nón cũng rất phát triển, dùng để trao đổi hoặc bán cho người Thái.

Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019: Tỷ lệ hộ nghèo: 66,3%; Tỷ lệ hộ cận nghèo: 10,2%; Tỷ lệ thất nghiệp: 0,67%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ: 4,0%; Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực phi nông nghiệp: 11,2%; Tỷ trọng lao động làm công việc quản lý hoặc CMKT bậc cao và trung: 1,7%; Tỷ lệ hộ làm nghề thủ công truyền thống: 0,11%.

● Français: L’ethnie Mảng

Theo - Các dân tộc ở Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật) - Đặc trưng cơ bản của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 (Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê) - Website Ủy ban Dân tộc