Sản xuất trong mùa nước nổi
Chúng tôi đến vùng sản xuất hoa màu mùa nước nổi ở Hội An Đông khi cơn mưa lớn vừa dứt. Trên từng thửa ruộng nằm trong vùng đê bao khép kín, các luống dưa leo, bầu, bí xanh, ruộng khoai môn... xanh mướt nối tiếp nhau. Buổi trưa, nông dân vẫn tiếp tục nán lại trên đồng chăm sóc rau màu, bơm rút nước để bảo vệ cây trồng và duy trì sản xuất giữa mùa nước nổi.
Khi nhiều vùng trồng rau màu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long xả đê (cho nước lũ vào đồng), nguồn cung rau màu đang giảm, cách canh tác đê bao khép kín (sau ba năm xả lũ một lần) đã đáp ứng được nhu cầu thị trường, cũng như tạo lợi thế giá bán cho nông sản nơi đây, giúp người dân có cơ hội cải thiện thu nhập. Ông Mai Phúc Dẫn, ấp An Quới Đông, xã Mỹ An Hưng có 20 năm gắn bó với nghề trồng rau màu cho biết: Thu nhập từ vụ rau màu kéo dài ba tháng, có thể đạt gần 10 triệu đồng /1.000 m², cao hơn gần 4 lần so với trồng lúa.
Tuy nhiên, mức thu nhập này không cố định mà thay đổi theo tình hình thời tiết, sâu bệnh và thị trường. “Gia đình tôi trồng dưa leo và một số loại rau màu khác để tranh thủ nguồn cung khan hiếm trong mùa nước nổi năm nay. Dưa leo tôi trồng khoảng 35 ngày là bắt đầu thu hoạch. Trồng rau màu mùa nước nổi rất vất vả, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cũng cực hơn, nhưng thu nhập cao hơn nhiều so với trồng lúa”, ông Mai Phúc Dẫn chia sẻ.
Nông dân đang trồng 20 ha củ kiệu. Nguồn hàng khan hiếm khiến giá bán lẻ kiệu thành phẩm được thu mua ở mức 40.000-50.000 đồng/kg, tăng khoảng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2025. Để chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết, nông dân nơi đây đang chủ động bố trí lịch gieo trồng phù hợp với thời gian sinh trưởng của từng loại cây. Dưa leo, bầu, bí có thể kịp cho thu hoạch trong thời gian ngắn, khoai môn và kiệu cần khoảng gần 5 tháng. Việc xuống giống lệch nhau từ nửa tháng đến một tháng giúp kéo dài thời gian thu hoạch, duy trì nguồn cung dịp Tết năm 2027.
Lợi thế của vùng sản xuất nằm ở khả năng duy trì nguồn cung khi nhiều khu vực lân cận đã kết thúc vụ hoặc xả đê. Trong thời điểm nguồn cung giảm, rau màu tại khu vực còn sản xuất có điều kiện tiêu thụ thuận lợi hơn. Theo ông Nguyễn Dung Thạch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Mỹ An Hưng, giá bán một số loại nông sản trong mùa nước nổi tăng khoảng 20-30% so với các vụ mùa khác, giúp xã viên và nông dân có lợi nhuận tương đối. Tuy nhiên, sản xuất trong mùa mưa lũ thì khâu chăm sóc, bảo quản cây trồng khó khăn hơn các vụ mùa khác, phải thường xuyên bơm rút nước ra khi mưa, lũ nhiều. Một số loại cây trồng cho năng suất, sản lượng thấp hơn các vụ mùa khác.
Hướng đến sản xuất bền vững
Mô hình vùng sản xuất hoa màu mùa nước nổi đã được thực hiện nhiều năm nay. Với định hướng của chính quyền địa phương và hợp tác xã, người dân từng bước chuyển từ sản xuất lúa sang trồng rau màu ba vụ mỗi năm. Trong đó, vụ mùa nước nổi được xác định là vụ sản xuất chính. Ông Nguyễn Phú Nhuận, Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hội An Đông cho biết: Hợp tác xã có 148 thành viên chính thức và các hộ liên kết, quản lý vùng sản xuất 509 ha, gồm 400 ha rau màu và 109 ha cây ăn quả. Nhờ hệ thống đê bao, cống đập và trạm bơm, nông dân có thể chủ động điều tiết nước, tổ chức sản xuất ngay trong mùa nước nổi.
Riêng đối với vùng sản xuất rau màu, sau từ hai đến ba năm, các xã viên hợp tác xã họp thống nhất thời điểm ngưng sản xuất để xả nước lũ vào. Sau thời gian được bồi đắp, đồng ruộng có điều kiện thuận lợi hơn cho những vụ sản xuất tiếp theo. Theo ông Nguyễn Dung Thạch, thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống đê bao, cống đập, thiết bị bơm rút nước; hướng dẫn người dân lựa chọn giống có khả năng chống chịu sâu bệnh, ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật để tiết kiệm chi phí và tăng năng suất.
Cùng với đầu tư hạ tầng, tổ chức lại sản xuất và liên kết tiêu thụ được xác định là những khâu quan trọng để mô hình phát triển ổn định. Hiện, nông sản của hợp tác xã được thương lái thu mua trực tiếp tại ruộng. Một số mặt hàng đã có liên kết với doanh nghiệp, nhà hàng và các đầu mối tiêu thụ ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác. Việc thỏa thuận giá theo tháng hoặc quý đối với một số đối tác góp phần tạo đầu ra ổn định hơn, giảm bớt sự phụ thuộc vào biến động giá trong ngày.
Hợp tác xã định hướng từng bước chuyển các cây trồng chủ lực như: khoai môn, kiệu và rau màu sang quy trình canh tác sạch, hướng đến VietGAP hoặc hữu cơ khi đáp ứng đủ điều kiện. Ông Nguyễn Phú Nhuận cho biết: “Quá trình này cần sự thay đổi từ nhận thức đến thói quen sản xuất. Hợp tác xã xác định phải tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, vận động xã viên và xây dựng liên kết giữa vùng nguyên liệu với doanh nghiệp thu mua để hình thành chuỗi sản xuất, tiêu thụ có trách nhiệm”.