Tăng trưởng kinh tế” là một khái niệm đa chiều, không thể đồng nhất một cách máy móc với tăng trưởng GDP.
Tăng trưởng kinh tế” là một khái niệm đa chiều, không thể đồng nhất một cách máy móc với tăng trưởng GDP.

Tăng trưởng kinh tế vượt ra ngoài khuôn khổ GDP

Để cung cấp cái nhìn tổng quan, đúng đắn hơn theo hướng “Tăng trưởng kinh tế” là một khái niệm đa chiều, không thể đồng nhất một cách máy móc với tăng trưởng GDP”, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi cùng bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng Ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê, Bộ Tài chính.

Phóng viên: Thưa bà, dư luận hiện nay đang thắc mắc chung quanh mối quan hệ giữa điện và tăng trưởng kinh tế, nhất là băn khoăn liệu có vấn đề gì khi năm 2025, tăng trưởng điện thấp hơn tăng trưởng GDP?

Trưởng Ban Nguyễn Thị Mai Hạnh: Bên cạnh tổng sản phẩm quốc nội (GDP), hệ thống tài khoản quốc gia còn cung cấp nhiều chỉ tiêu khác phản ánh các khía cạnh khác nhau của quá trình tăng trưởng kinh tế, như tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân khả dụng (NDI), tiết kiệm (Saving) hay tích lũy tài sản. Mỗi chỉ tiêu này đo lường một lát cắt khác nhau của hoạt động kinh tế, và không thể quy giản hoàn toàn về GDP mà không làm mất đi thông tin kinh tế quan trọng.

GNI phản ánh thu nhập mà các chủ thể trong nền kinh tế thật sự nhận được, bao gồm cả thu nhập từ và ra nước ngoài, trong khi GDP chỉ đo lường giá trị gia tăng được tạo ra trong lãnh thổ. Trong các nền kinh tế có mức độ hội nhập quốc tế cao, chênh lệch giữa GDP và GNI có thể đáng kể, khiến tăng trưởng GDP không đồng nghĩa với sự gia tăng tương ứng về thu nhập quốc dân. Do đó, nếu tăng trưởng kinh tế được hiểu theo nghĩa cải thiện năng lực thu nhập và phúc lợi, thì việc chỉ dựa vào GDP là không đầy đủ.

dien-gdp5.png

Tương tự, thu nhập quốc dân khả dụng (NDI) và tiết kiệm phản ánh khả năng phân bổ nguồn lực cho tiêu dùng và tích lũy trong tương lai. Một nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng GDP cao, nhưng nếu phần lớn giá trị gia tăng được sử dụng để bù đắp khấu hao, trả thu nhập ra nước ngoài hoặc tài trợ cho tiêu dùng ngắn hạn, thì khả năng tích lũy và mở rộng năng lực sản xuất trong dài hạn vẫn bị hạn chế. Trong trường hợp này, tăng trưởng GDP không phản ánh đúng chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế.

Những khác biệt này cho thấy rằng, “tăng trưởng kinh tế” là một khái niệm đa chiều, không thể đồng nhất một cách máy móc với tăng trưởng GDP. Việc sử dụng GDP như thước đo duy nhất trong phân tích kinh tế - nhất là trong các nghiên cứu liên quan năng lượng và điện năng - dễ dẫn đến việc lựa chọn sai biến đại diện cho quy mô hoạt động kinh tế thực tế. Khi điện năng gắn chặt với quá trình sản xuất và tích lũy vật chất, mối quan hệ giữa điện và tăng trưởng kinh tế cần được đặt trong một khuôn khổ rộng hơn, xem xét đồng thời tổng sản lượng, thu nhập, tiết kiệm và cấu trúc sử dụng nguồn lực.

Phóng viên: Vậy theo bà, cách tiếp cận đúng đắn nhất liên quan tới điện, tới GDP và tăng trưởng kinh tế chung cụ thể là như thế nào?

dien-gdp4.png

Trưởng Ban Nguyễn Thị Mai Hạnh: Như tôi đã phân tích ở trên, cách tiếp cận dựa thuần túy trên GDP không chỉ hạn chế về mặt khái niệm, mà còn làm nghèo đi khả năng phân tích chính sách. Một khuôn khổ phân tích nhất quán hơn cần phân biệt rõ các chỉ tiêu tăng trưởng khác nhau trong hệ thống tài khoản quốc gia, qua đó làm rõ khía cạnh nào của tăng trưởng có liên quan trực tiếp đến nhu cầu điện, và khía cạnh nào phản ánh các mục tiêu phúc lợi và tích lũy dài hạn.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, cần một sự điều chỉnh căn bản trong khuôn khổ phân tích chính sách năng lượng. Trước hết, thay vì đặt GDP ở vị trí trung tâm, phân tích nên xuất phát từ tổng sản lượng và cầu cuối cùng, phù hợp với logic kế toán sản xuất và tiêu thụ năng lượng. Trong khuôn khổ này, bảng cân đối liên ngành (Input- Output Table) đóng vai trò then chốt, cho phép liên kết nhu cầu điện của từng ngành với cấu trúc sản xuất của toàn bộ nền kinh tế.

Việc sử dụng các chỉ tiêu như nhu cầu điện cho một đơn vị cầu cuối cùng, hay các hệ số lan tỏa sản lượng của ngành điện, cho phép lượng hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ điện một cách nhất quán hơn. Những chỉ tiêu này không chỉ phản ánh quy mô tăng trưởng, mà còn cho phép phân rã tác động của thay đổi cơ cấu ngành và công nghệ. Qua đó, các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá chính xác hơn nguồn gốc của tăng trưởng nhu cầu điện, thay vì dựa vào các chỉ báo tổng hợp khó diễn giải.

dien-gdp3.png

Bên cạnh đó, việc tích hợp phân tích Bảng cân đối liên ngành với hệ thống tài khoản quốc gia cũng góp phần nâng cao tính nhất quán giữa các mục tiêu kinh tế và năng lượng. Khi các kịch bản phát triển kinh tế được xây dựng đồng thời với các kịch bản nhu cầu điện trên cùng một nền tảng kế toán, rủi ro mâu thuẫn nội tại giữa các chính sách vĩ mô sẽ được giảm thiểu. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu, từ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu đến giảm phát thải.

Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng việc nâng cao chất lượng phân tích không chỉ là vấn đề lựa chọn công cụ, mà còn là vấn đề cách thức truyền tải tri thức vào quá trình ra quyết định. Việc tiếp tục sử dụng các chỉ báo giản lược như hệ số đàn hồi điện/GDP trong diễn ngôn chính sách và truyền thông đại chúng có thể tạo ra cảm giác đơn giản và dễ hiểu, nhưng phải trả giá bằng độ chính xác và chiều sâu phân tích. Một quá trình hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng đòi hỏi sự chấp nhận của những khuôn khổ phân tích phức tạp hơn, nhưng phản ánh đúng bản chất kinh tế hơn.

Ngược lại, khi nền kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ hóa, tăng tỷ trọng các ngành có hàm lượng vật chất và năng lượng thấp, hoặc áp dụng các công nghệ tiết kiệm điện, GDP có thể tăng nhanh hơn tổng sản lượng vật chất. Khi đó, hệ số đàn hồi điện/GDP giảm xuống, và thường được diễn giải như bằng chứng của việc “tách rời” giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng. Tuy nhiên, nếu không phân tích đồng thời sự thay đổi của tổng sản lượng và cấu trúc ngành, cách diễn giải này có thể dẫn đến nhận định quá lạc quan về hiệu quả năng lượng, trong khi phần lớn biến động chỉ phản ánh sự dịch chuyển cơ cấu.

Phóng viên: Không phủ nhận trong thực tế đã tồn tại cách diễn giải về mối liên hệ có tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế có gắn với tăng tỷ trọng các ngành có hàm lượng vật chất và năng lượng thấp nói chung, thưa bà?

Trưởng Ban Nguyễn Thị Mai Hạnh: Có sự nhầm lẫn như tôi đã chỉ ra, đó là hệ số đàn hồi điện/GDP là một chỉ báo mang tính tổng hợp nhưng thiếu khả năng phân rã, không cho phép tách biệt rõ ràng giữa ba yếu tố then chốt gồm: quy mô hoạt động sản xuất, cấu trúc ngành và chuỗi cung ứng, tiến bộ công nghệ và hiệu quả sử dụng năng lượng. Khi ba yếu tố này biến động đồng thời - như thường thấy trong các nền kinh tế đang phát triển - việc sử dụng một chỉ báo đơn giản như hệ số đàn hồi điện/GDP không những không giúp làm rõ bản chất kinh tế, mà còn có nguy cơ che khuất các động lực thật sự của tăng trưởng tiêu thụ điện.

Từ góc độ hoạch định chính sách, hệ quả đầu tiên của cách tiếp cận này là rủi ro sai lệch trong dự báo nhu cầu điện. Các mô hình dự báo dựa trên tăng trưởng GDP, nếu không điều chỉnh theo tổng sản lượng và cấu trúc ngành, có thể đánh giá thấp hoặc đánh giá cao nhu cầu điện trong tương lai. Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các quyết định đầu tư dài hạn trong lĩnh vực điện lực, nơi sai lệch dự báo có thể dẫn đến dư thừa công suất hoặc thiếu hụt nguồn cung, kéo theo chi phí kinh tế và xã hội lớn.

ndo_br_dien-gdp2.jpg
Trưởng Ban Nguyễn Thị Mai Hạnh trong một họp báo thường kỳ của Cục Thống kê.

Hệ quả thứ hai liên quan việc thiết kế và đánh giá chính sách tiết kiệm năng lượng. Khi hệ số đàn hồi điện/GDP được sử dụng như một chỉ báo hiệu quả, các biến động của chỉ số này dễ bị gán cho nguyên nhân hành vi hoặc công nghệ, trong khi phần lớn có thể bắt nguồn từ thay đổi cơ cấu sản xuất. Điều này có thể dẫn đến các chính sách can thiệp thiếu trọng tâm, chẳng hạn đặt kỳ vọng quá cao vào các biện pháp tiết kiệm điện trong bối cảnh nhu cầu điện tăng chủ yếu do mở rộng sản xuất trung gian.

Phóng viên: Vậy theo bà, cần phải lưu ý tới những hàm ý chính sách cụ thể nào chung quanh nội dung này? Nhân dịp này, bà có khuyến cáo cụ thể nào để hiểu đúng và đánh giá đúng mối liên hệ giữa các nhân tố với tăng trưởng kinh tế, thưa bà?

Trưởng Ban Nguyễn Thị Mai Hạnh: Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng tiêu thụ điện và tăng trưởng kinh tế giữ vai trò trung tâm trong hoạch định chính sách năng lượng, đặc biệt đối với các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi cơ cấu như Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn phân tích và dự báo hiện nay vẫn phổ biến việc sử dụng hệ số đàn hồi điện/GDP như một chỉ báo tổng hợp, bất chấp những bất cập về phương diện khái niệm và phương pháp luận. Điều này cũng nhấn mạnh rằng những bất cập đó không chỉ mang tính học thuật, mà còn có hệ quả chính sách đáng kể trong trung và dài hạn.

Trước hết, cần khẳng định rõ rằng, GDP không phải là đại diện đầy đủ cho quy mô hoạt động sản xuất trong nền kinh tế. GDP đo lường giá trị gia tăng, tức phần giá trị mới được tạo ra sau khi loại trừ toàn bộ chi phí đầu vào trung gian. Trong khi đó, điện năng được tiêu thụ xuyên suốt toàn bộ chuỗi sản xuất, bao gồm cả các khâu sản xuất trung gian và các hoạt động hỗ trợ. Về mặt kế toán kinh tế, do đó, tiêu thụ điện có mối quan hệ trực tiếp với tổng sản lượng (Gross Output) hơn là với GDP.

Việc liên hệ trực tiếp tăng trưởng điện với tăng trưởng GDP tạo ra một sự không tương thích về khái niệm ngay từ điểm xuất phát. Sự không tương thích này trở nên đặc biệt nghiêm trọng trong bối cảnh nền kinh tế thay đổi cơ cấu sản xuất.

Khi mức độ phân công lao động gia tăng, chuỗi cung ứng kéo dài và các ngành chế biến trung gian mở rộng, tổng sản lượng có thể tăng nhanh hơn đáng kể so với GDP. Trong trường hợp này, tăng trưởng tiêu thụ điện phản ánh sự gia tăng của hoạt động sản xuất trung gian nhiều hơn là sự gia tăng của giá trị gia tăng cuối cùng. Nếu vẫn sử dụng hệ số đàn hồi điện/GDP, hiện tượng này dễ bị diễn giải sai như một sự suy giảm hiệu quả sử dụng điện của nền kinh tế, trong khi thực chất chỉ là hệ quả tất yếu của quá trình tái cấu trúc sản xuất.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn bà!

Có thể bạn quan tâm

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quét mã QR tra cứu thông tin sản phẩm tại Lễ công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. (Ảnh: MINH ANH)

Niềm tin mới từ “nông sản số”

Với việc chính thức vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam, chỉ cần một mã QR trên sản phẩm, người tiêu dùng có thể tiếp cận đầy đủ thông tin về vùng trồng, cơ sở đóng gói, quy trình sản xuất của nhiều mặt hàng trên cả nước.

Cục trưởng Hải quan Nguyễn Văn Thọ chủ trì hội nghị

Thu ngân sách từ xuất nhập khẩu tăng gần 19% sau 6 tháng

Không chỉ ghi nhận mức tăng gần 19% về thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành hải quan còn đạt nhiều kết quả tích cực trong cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, hiện đại hóa quản lý và đấu tranh chống buôn lậu, góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại.

Quang cảnh hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ các tháng cuối năm 2026 do Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) tổ chức ngày 3/7 tại Hà Nội.

Nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển thị trường trong nước

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, thị trường trong nước chịu tác động đan xen từ biến động giá, chi phí đầu vào, sự thay đổi nhanh của phương thức kinh doanh và quá trình chuyển dịch mạnh mẽ sang môi trường số, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý, phát triển thị trường ngày càng cao.

Hoạt động vận tải tháng 6 tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và khách quốc tế, đồng thời phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa. (Ảnh: PV)

Hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì tốc độ tăng khá cao trong 6 tháng qua

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 6/2025, hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục duy trì tốc độ tăng khá cao với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 14,8% so cùng kỳ 2025. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9% so cùng kỳ 2025.

Quang cảnh hội nghị.

Hà Nội quyết tâm tăng trưởng cả năm hơn 11%

Chiều 3/7, đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội chủ trì hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội.

Toàn cảnh buổi diễn tập phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và ứng cứu khẩn cấp năm 2026.

Nâng cao năng lực ứng cứu, khôi phục nhanh lưới điện truyền tải

Trong hai ngày 1 và 2/7, Công ty Truyền tải điện 3 (PTC3) đã tổ chức diễn tập công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và ứng cứu khẩn cấp năm 2026 tại tỉnh Đắk Lắk. Hoạt động nhằm nâng cao năng lực chỉ huy, phối hợp và xử lý sự cố, bảo đảm khôi phục nhanh hệ thống truyền tải điện khi xảy ra tình huống bất thường.

Nghị định số 252/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định về hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nộp thuế khắc phục vướng mắc về nợ thuế. (Ảnh: nhandan.vn)

Điều chỉnh quy định về tạm hoãn xuất cảnh, tạo điều kiện cho người nộp thuế khắc phục vi phạm

Nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định về hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nộp thuế khắc phục vướng mắc về nợ thuế.

Toàn cảnh hội nghị (Ảnh: MINH PHƯƠNG)

Thu ngân sách vượt 61% dự toán, ngành thuế tăng tốc về đích

Thu ngân sách đạt hơn 61% dự toán sau nửa đầu năm 2026 đã tạo nền tảng để ngành thuế bước vào giai đoạn tăng tốc. Trong 6 tháng cuối năm, toàn ngành sẽ tập trung quản lý thu trên nền tảng dữ liệu, kiểm soát các lĩnh vực rủi ro và nâng cao chất lượng phục vụ người nộp thuế.

Sử dụng Drone phun thuốc bảo vệ thực vật. (Ảnh: BÍCH HỒNG)

Bổ sung 3 hoạt chất mới vào Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 28/2026/TT-BNNMT sửa đổi, bổ sung Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, bổ sung 3 hoạt chất mới, mở rộng thuốc bảo vệ thực vật sinh học và ứng dụng thiết bị bay không người lái (drone) trong sản xuất nông nghiệp.