Thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã đến ngưỡng, đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản về phương thức tạo ra tăng trưởng.
Trong sự chuyển mình đó, các địa phương trở thành một hạt nhân gắn kết chặt chẽ trong cỗ máy tăng trưởng của cả nước. Câu chuyện của Bắc Ninh từ một tỉnh công nghiệp chuyển lên thành phố trực thuộc Trung ương, gắn với định hướng phát triển kinh tế chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu được giới chuyên môn nhắc đến như một điển hình tiêu biểu.
Trong năm đầu tiên bước vào giai đoạn tăng trưởng cao, Bắc Ninh đang có nhiều lợi thế từ “cú huých kép”. Đó là dấu mốc sáp nhập tỉnh Bắc Ninh-Bắc Giang tháng 6/2025 và dấu mốc Bắc Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương thứ 9 của cả nước từ 20/9/2026.
Nếu như việc sáp nhập địa giới hành chính đem lại cho địa phương này dư địa giải quyết những điểm nghẽn về nguồn cung lao động, quỹ đất và tạo sức bật mới cho thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) thì vị thế của một thành phố trực thuộc Trung ương giúp Bắc Ninh có dư địa thể chế, cơ chế đặc thù về phân cấp ngân sách, thẩm quyền quản lý đô thị, đầu tư, quy hoạch.
Tận dụng lợi thế từ “cú huých kép”, địa phương này đã chọn con đường tăng trưởng theo chiều sâu, lấy công nghiệp công nghệ cao làm trụ cột; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực bứt phá; thu hút đầu tư chất lượng cao để hình thành hệ sinh thái công nghiệp gắn với trung tâm sáng tạo, sản xuất thông minh và sản phẩm công nghệ có giá trị gia tăng cao.
Đáng lưu ý trong định hướng phát triển mới, Bắc Ninh không chỉ ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp bán dẫn, kinh tế số, kinh tế xanh mà còn đặt yêu cầu xử lý căn cơ tình trạng ngập úng, ô nhiễm, quá tải hạ tầng; đặc biệt là không đánh đổi môi trường, văn hóa và bản sắc để lấy tăng trưởng đơn thuần.
Không chỉ riêng Bắc Ninh, năm 2026, các cực tăng trưởng lớn đều được “khoán” chỉ tiêu tăng trưởng cao hơn mức phấn đấu chung của cả nước, gắn với trách nhiệm giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Đáng lưu ý, Chính phủ cũng yêu cầu các địa phương nâng cao năng lực tự chủ dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; mọi cơ chế chính sách phải lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Trong khi đó ở thượng tầng kiến trúc, Chính phủ thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng, hành động và kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, không đánh đổi ổn định vĩ mô lấy tăng trưởng nóng.
Đặc biệt những quý đầu năm, kết quả tăng trưởng vẫn thấp hơn kịch bản điều hành trong khi lạm phát đã tiệm cận mục tiêu cả năm nhưng Chính phủ không “nới” tay trong công tác điều hành chính sách tiền tệ. Thay vào đó, Thủ tướng Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, giữ ổn định thanh khoản.
Đồng thời, Chính phủ giao Bộ Tài chính tiếp tục triển khai các chính sách miễn, giảm, giãn thuế, phí, lệ phí để tiếp sức cho người dân và doanh nghiệp; giao Bộ Công thương có các giải pháp bảo đảm cung-cầu hàng hóa, nhất là các yếu tố đầu vào quan trọng như điện, xăng dầu…
Ông Mạc Quốc Anh, Phó Viện trưởng Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, trong bối cảnh hiện nay, tăng trưởng 2 con số không chỉ là câu hỏi về tốc độ, quan trọng hơn là thay đổi cách thức tăng trưởng, từ dựa nhiều vào lợi thế lao động giá rẻ, mở rộng đầu tư và hội nhập quốc tế sang dựa vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Giải bài toán về tư duy điều hành
Theo Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, nguyên Cục trưởng Thống kê, thách thức lớn nhất của công tác điều hành kinh tế giai đoạn 2026-2030 là phải chuyển từ tư duy mở rộng nguồn lực sang tư duy kiến tạo năng lực tăng trưởng.
Trọng tâm của công tác điều hành kinh tế không còn là không còn là làm thế nào huy động nhiều vốn hơn mà phải tìm giải pháp để mỗi đồng vốn được chuyển hóa thành nâng cao năng suất, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Tăng trưởng trong ngắn hạn có thể được hỗ trợ bằng việc mở rộng đầu tư và tín dụng nhưng năng lực tăng trưởng dài hạn chỉ có thể tạo lập khi nền kinh tế có khả năng hấp thụ hiệu quả các nguồn lực mới và chuyển hóa thành năng suất lao động, đổi mới công nghệ và giá trị gia tăng.
Nếu chỉ tập trung mở rộng tín dụng và đầu tư công để kích thích tổng cầu nhưng không nâng cao năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế và chất lượng phân bổ nguồn lực, hiệu quả của chính sách kích thích trong ngắn hạn sẽ giảm dần trong khi áp lực lạm phát và các rủi ro mất cân đối vĩ mô sẽ gia tăng.
Do đó, bài toán lớn đặt ra cho công tác điều hành kinh tế vĩ mô hiện nay là tìm phương thức hiệu quả để dung hòa giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, bảo đảm mục tiêu đưa nền kinh tế vào quỹ đạo tăng trưởng cao nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo vị chuyên gia, điều hành kinh tế vĩ mô trong giai đoạn hiện nay không còn là quản trị dòng tiền hay mở rộng nguồn lực mà thực chất là quản trị quá trình chuyển hóa nguồn lực thành năng suất và năng lực cạnh tranh để giảm chi phí của sự đánh đổi giữa tăng trưởng nhanh và ổn định bền vững. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về công cụ chính sách mà là thay đổi về triết lý điều hành.
Trong hành trình phát triển của đất nước, giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với yêu cầu vừa phải đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững cho những giai đoạn tiếp theo.
Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, thách thức lớn đặt ra cho Việt Nam hiện nay là bước vào giai đoạn tăng tốc trong khi các yếu tố hỗ trợ từ bên ngoài đã thay đổi vì kinh tế thế giới không còn giữ được nhịp tăng trưởng nhanh và cũng không còn vận hành theo những quy luật thương mại tương đối ổn định được thiết lập trước đây.
Con đường vượt bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam vì vậy không còn phù hợp với bước đi truyền thống, tuần tự từ tăng trưởng dựa vào vốn đến công nghệ và đổi mới sáng tạo mà cần kết hợp đồng thời cả ba yếu tố.
Tính toán của Tiến sĩ Cấn Văn Lực và các cộng sự cho thấy, nếu khai thác tốt các động lực tăng trưởng mới, gồm khoa học công nghệ và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách thể chế, thúc đẩy các đầu tàu kinh tế và liên kết vùng, xử lý hiệu quả các dự án tồn đọng sẽ góp phần giúp GDP tăng thêm khoảng 2,8-3,7 điểm phần trăm.
Cùng quan điểm, Tiến sĩ Võ Trí Thành, Viện trưởng Nghiên cứu Chiến lược, Thương hiệu và Cạnh tranh nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển, nhất là dòng vốn chất lượng cao, vốn xanh trong thu hút FDI kết hợp với tăng cường chuyển giao công nghệ, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp khu vực kinh tế FDI với doanh nghiệp trong nước. Đặc biệt, cần lồng ghép các mục tiêu phát triển để bảo đảm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng đi cùng với chất lượng và mở rộng sức lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế.
Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, việc kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số đi đôi với bảo vệ môi trường, kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô chính là bản lĩnh điều hành để kinh tế Việt Nam vững vàng vượt qua thách thức.