Dây chuyền sản xuất tại Nhà máy Samsung Electronics, Khu công nghiệp Yên Phong, thành phố Bắc Ninh. (Ảnh: HOÀNG PHƯƠNG)
Dây chuyền sản xuất tại Nhà máy Samsung Electronics, Khu công nghiệp Yên Phong, thành phố Bắc Ninh. (Ảnh: HOÀNG PHƯƠNG)

Sức mạnh từ liên kết

Sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp ở Việt Nam không phải là phép cộng đơn thuần về số lượng doanh nghiệp mà là sự phối hợp, liên kết giữa các loại hình doanh nghiệp với nhau. Hiện nay, đã có một số mô hình liên kết các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động tốt nhưng chưa phổ biến.

Dựa trên tinh thần của các Nghị quyết Trung ương: Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, có thể khẳng định sự tồn tại ba khu vực kinh tế với hạt nhân là các doanh nghiệp của khu vực nhà nước, doanh nghiệp khu vực tư nhân và doanh nghiệp khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là tất yếu và không loại trừ lẫn nhau.

Hai đường thẳng song song

Các doanh nghiệp nói trên là các chủ thể kinh tế chủ yếu góp phần thực hiện những mục tiêu cao cả của đất nước đến năm 2030-2045 và tầm nhìn đến năm 2130 trong Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Mỗi loại hình doanh nghiệp thuộc từng khu vực kinh tế có thể đảm nhiệm những chức năng khác nhau, nhưng cần thống nhất một nguyên lý quan trọng, đó là: Ba khu vực kinh tế, một năng lực quốc gia. Điều này có nghĩa, doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế không nên được xem là các “mảng” tách biệt, mà là ba nhóm chủ thể cùng hình thành hệ sinh thái năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo cách hiểu này, cần phải nhấn mạnh đến sức liên kết của các doanh nghiệp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của toàn hệ thống, tức là tiếp cận ở góc độ lực lượng doanh nghiệp. Trong lực lượng doanh nghiệp Việt Nam, các tập đoàn kinh tế đóng vai trò “trụ cột”, làm trục liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo thành “chuỗi”, “mạng” sản xuất Việt Nam.

Hiện nay, đã có một số mô hình thể hiện sự liên kết các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam đang hoạt động tốt. Có thể nêu ra đây một số mô hình điển hình, như mô hình Nhà nước-Tập đoàn Samsung-Doanh nghiệp tư nhân áp dụng trong giai đoạn 2015-2025 với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam cải tiến sản xuất và phát triển nhà cung ứng. Theo đó, Bộ Công thương và Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đưa ra các chính sách liên quan đến hỗ trợ đào tạo, kết nối; Tập đoàn Samsung đặt ra các tiêu chuẩn công nghệ, quản trị và các đơn hàng; doanh nghiệp tư nhân hướng tới nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ và tham gia chuỗi cung ứng. Kết quả là mô hình này đã đào tạo được 207 chuyên gia tư vấn Việt Nam, hỗ trợ cải tiến cho 144 doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng Samsung, nâng số nhà cung cấp cấp 1 từ 35 đến 50 doanh nghiệp và nhà cung cấp cấp 2 từ 157 đến 203 doanh nghiệp.

10-7011.jpg
Dây chuyền sản xuất tại Nhà máy Samsung Electronics, Khu công nghiệp Yên Phong, thành phố Bắc Ninh. (Ảnh: HOÀNG PHƯƠNG)

Đối với Dự án hợp tác phát triển nhà máy thông minh, mô hình liên kết cũng đạt được những kết quả đáng khích lệ. Trong mô hình này, Nhà nước tạo thể chế, tài chính, kết nối Tập đoàn Samsung với các doanh nghiệp nội địa. Về phía Samsung thực hiện cung cấp công nghệ, tiêu chuẩn, chuyên gia, mô hình quản trị để hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân. Còn các doanh nghiệp tư nhân tiếp nhận, ứng dụng, cải tiến và đổi mới hoạt động. Kết quả là Chương trình đã góp phần tăng năng suất, chuyển đổi số và nâng năng lực cạnh tranh cho khu vực doanh nghiệp trong nước. Đây chính là một cơ chế rất tốt để giải thích tại sao liên kết giữa ba khu vực có thể trở thành động lực phát triển kinh tế tư nhân.

Tuy nhiên các mô hình trên còn đang rất hạn chế. Trong thực tiễn, các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế ở Việt Nam hoạt động vẫn khá tách rời theo kiểu “ba nền kinh tế trong một nền kinh tế”. Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ hạ tầng, năng lượng, khoáng sản và các nguồn lực chiến lược của quốc gia nhưng chưa làm tròn vai trò “bệ đỡ” cho doanh nghiệp tư nhân nội địa lớn mạnh. Doanh nghiệp FDI đóng góp lớn vào xuất khẩu nhưng hoạt động theo chuỗi cung ứng toàn cầu riêng, gần như không thẩm thấu công nghệ hay tạo hiệu ứng lan tỏa cho doanh nghiệp nội địa, tạo nên hai đường thẳng song song: Doanh nghiệp FDI đi thẳng ra thị trường quốc tế, tư nhân quẩn quanh ở thị trường nội địa thô sơ.

blue-and-orange-minimalist-business-adaptation-strategy-to-changes-in-the-digital-economy-presentation.jpg

Liên kết qua “Hiệu ứng chảy tràn”

Thực tiễn trên đòi hỏi cần thúc đẩy quá trình liên kết doanh nghiệp giữa các khu vực kinh tế, trong đó hướng đến mô hình mẫu liên kết doanh nghiệp dạng “Hiệu ứng chảy tràn”. Mô hình này hướng các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế khác nhau thực hiện liên kết kinh tế, dựa trên nguyên lý tự nguyện, cùng có lợi và phù hợp với năng lực của mỗi loại hình doanh nghiệp. Trong quá trình đó, hiệu quả và sự trưởng thành của các loại hình doanh nghiệp được “tràn“ từ trên (các tập đoàn, doanh nghiệp lớn) xuống dưới (các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn), tạo thành một hệ thống bền vững.

Theo mô hình này, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, hay còn gọi là các sếu đầu đàn đóng vai trò là đầu tàu và phát huy sức lan tỏa của họ. Đây là những đơn vị kinh tế có thể dẫn dắt cuộc chơi, tạo ra thị trường và mạng lưới kinh doanh hay các chuỗi giá trị, để các thành viên khác trong cộng đồng doanh nghiệp có thể tìm thấy ở đó đường đi nước bước và chỗ đứng cho mình để tham gia. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là đối tác đáng tin cậy trong liên kết với các tập đoàn, doanh nghiệp lớn; là nơi để các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn đặt hàng nguồn cung đối với các sản phẩm và dịch vụ, đồng thời các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là thị trường quan trọng trực tiếp tiêu thụ hoặc tham gia phân phối các sản phẩm của các tập đoàn lớn.

Trong mô hình này, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn thực hiện chức năng đối mặt với thị trường, thương mại hóa sản phẩm mà kết quả nghiên cứu và triển khai của các sản phẩm thương mại hóa được thực hiện ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hợp tác giữa hai bên. Quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa các tập đoàn lớn với các doanh nghiệp khác tạo nên sự phát triển mà cả phía doanh nghiệp cũng như xã hội và người dân đều được hưởng lợi ích. Hợp tác kinh doanh có thể tạo thành những doanh nghiệp lớn mạnh cả về tiềm lực kinh tế lẫn quy mô. Có như vậy, mới cạnh tranh được với những tập đoàn nước ngoài, vươn ra sân chơi toàn cầu và hình thành nên chuỗi giá trị.

Quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa các tập đoàn lớn với các doanh nghiệp khác tạo nên sự phát triển mà cả phía doanh nghiệp cũng như xã hội và người dân đều được hưởng lợi ích. Hợp tác kinh doanh có thể tạo thành những doanh nghiệp lớn mạnh cả về tiềm lực kinh tế lẫn quy mô. Có như vậy, mới cạnh tranh được với những tập đoàn nước ngoài, vươn ra sân chơi toàn cầu và hình thành nên chuỗi giá trị.

Để thực hiện mô hình liên kết theo “hiệu ứng chảy tràn”, trước hết, cần chủ động hình thành hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có đủ sức đại diện cho năng lực quốc gia. Cụ thể là hình thành và phát triển nhiều tập đoàn kinh tế lớn có tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế thông qua chính sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt động nghiên cứu, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ của tập đoàn kinh tế. Gia tăng số lượng của doanh nghiệp quy mô vừa, thúc đẩy tích tụ vốn bằng nội lực và bằng các phương thức mua bán, sáp nhập, đầu tư cổ phiếu. Hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, như chính sách thuế; sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ các quy định về cấp phép kinh doanh, xuất nhập khẩu, quản lý thị trường, tạo mọi khả năng để các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực phát triển.

Đồng thời, cần xây dựng và phát triển các chuỗi mạng sản xuất do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ để chủ động, sáng tạo trong sản xuất và liên kết các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ thành một khối sức mạnh; trong đó, các thành tố nương tựa vào nhau để phát triển trong cạnh tranh. Nếu không, doanh nghiệp Việt sẽ khó lớn, chậm lớn và không thể trưởng thành trong cạnh tranh quốc tế như thực tiễn thời gian qua đã chứng minh. Điều kiện quan trọng khác là nâng cấp công nghiệp theo chiều sâu dựa trên FDI.

blue-and-orange-minimalist-business-adaptation-strategy-to-changes-in-the-digital-economy-presentation-1.jpg

Theo đó, cần tập trung thu hút các tập đoàn đa quốc gia có công nghệ cao, công nghệ sạch và giá trị gia tăng lớn như công nghiệp bán dẫn, AI, tự động hóa. Khuyến khích doanh nghiệp FDI đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ và ứng dụng công nghệ 4.0; hoàn thiện hạ tầng khu công nghiệp hiện đại, bền vững. Điều kiện quan trọng khác là cần thay đổi tư duy liên kết FDI theo hướng chủ động và lan tỏa: Chuyển từ “thu hút đầu tư” sang “xúc tiến đầu tư tại chỗ”, cụ thể là tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp FDI lớn hiện hữu (Samsung, Canon, Foxconn, Amkor…) mở rộng sản xuất, đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp vệ tinh đi kèm; kết nối doanh nghiệp trong nước với FDI; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư bài bản vào quản trị hiện đại, nâng cao năng lực sản xuất để trở thành đối tác tin cậy của các “ông lớn” FDI nhằm nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa.

Tóm lại, sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp ở Việt Nam không phải là phép cộng đơn thuần về số lượng doanh nghiệp mà điều quan trọng hơn, đó là sự phối hợp, liên kết giữa các loại hình doanh nghiệp với nhau. Sự liên kết này không có sự phân biệt về quy mô, đặc trưng sở hữu hay nguồn gốc xuất xứ của doanh nghiệp góp phần tạo nên lực lượng doanh nghiệp Việt Nam, một năng lực quốc gia hùng hậu, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Có thể bạn quan tâm

Một đoạn tuyến thuộc dự án đường cao tốc bắc-nam vừa hoàn thành, đưa vào khai thác.

"Kích hoạt" sức mạnh doanh nghiệp

Vừa qua, quy hoạch tổng thể quốc gia điều chỉnh đã được phê duyệt với nhiều đột phá về mô hình tăng trưởng, phát triển công nghệ cao, hạ tầng chiến lược, cơ chế huy động nguồn lực cho các dự án trọng điểm. Chính phủ đã lên kế hoạch hành động với chủ trương lấy vốn ngân sách nhà nước làm “ngòi nổ” kích hoạt nguồn lực toàn xã hội.

Bốn trạm biến áp ngoài khơi trên hành trình vượt biển đến châu Âu.

Nỗ lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Bên cạnh quy mô thương mại, xuất khẩu tăng nhanh, việc thiếu tính liên kết với các tập đoàn đa quốc gia cùng những điểm nghẽn về năng lực quản trị, chi phí logistics khiến một số doanh nghiệp Việt Nam phải đứng ngoài “sân chơi” toàn cầu.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay. (Ảnh: THẾ ANH)

Từ bước chuyển biến tư duy đến hiệu quả thực thi

Qua hơn một năm thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68), môi trường đầu tư, kinh doanh tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến tích cực, nhất là trong tư duy quản lý, cải cách thủ tục hành chính.

Ngành gỗ Việt Nam tìm dư địa tăng trưởng từ đa dạng hóa thị trường. (Ảnh: VŨ THÀNH)

Ngành gỗ Việt Nam tìm dư địa tăng trưởng từ đa dạng hóa thị trường

Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với ngành gỗ và nội thất Việt Nam hiện nay. Bên cạnh mở rộng địa bàn tiêu thụ, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu, bảo đảm nguồn gốc nguyên liệu hợp pháp và tăng cường kết nối, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 33 (FMM 2026) đã chính thức diễn ra tại Hồng Công (Trung Quốc) trong 2 ngày từ 20-21/10. (Ảnh: Bộ Tài chính)

Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 33: Kinh tế vĩ mô là trọng tâm đối thoại chính sách hàng đầu

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã có bài phát biểu quan trọng tại Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 33, chia sẻ về tình hình, triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam và định hướng điều hành chính sách nhằm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2027.

Cải cách thủ tục hải quan góp phần giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. (Ảnh: CHQ)

Gỡ vướng trong thực thi chính sách hải quan

Khai báo điện tử giúp doanh nghiệp thuận tiện hơn khi làm thủ tục, nhưng những khác biệt trong áp dụng quy định vẫn có thể làm phát sinh thời gian, chi phí và rủi ro về nghĩa vụ thuế. Bên cạnh đơn giản hóa hồ sơ, cải cách hải quan cần đi sâu vào tính thống nhất và sự đồng bộ trong thực thi.

Hội thảo khoa học công bố báo cáo “Triển vọng Kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương” của Quỹ Tiền tệ quốc tế. (Ảnh: BTC)

IMF công bố triển vọng kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương và khuyến nghị cho Việt Nam

Ngày 20/10, Đại học Kinh tế quốc dân phối hợp Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tổ chức hội thảo khoa học công bố báo cáo “Triển vọng Kinh tế Khu vực châu Á - Thái Bình Dương”. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh bức tranh kinh tế toàn cầu và khu vực đang đứng trước những biến chuyển cơ cấu sâu sắc cùng nhiều thách thức đan xen.

Trình bày các nội dung diễn tập an ninh mạng. (Nguồn ảnh: VNPT)

VNPT chủ trì diễn tập an ninh mạng tại Công an tỉnh Thanh Hóa năm 2026

VNPT vừa chủ trì diễn tập an ninh mạng, an ninh dữ liệu đối với hệ thống thông tin Công an tỉnh Thanh Hóa năm 2026. Với chủ đề “Điều tra, truy vết và xử lý mã độc lây nhiễm qua môi trường mạng xã hội”, chương trình tập trung rèn luyện kỹ năng điều tra, xử lý mã độc và nâng cao năng lực phối hợp ứng phó sự cố an ninh mạng.

Kho Video Highlights trên MyTV giúp khán giả lựa chọn nội dung xem lại. (Ảnh: VNPT)

MyTV ứng dụng AI nâng cao trải nghiệm khách hàng với nội dung số

Theo định hướng Data Driven, AI-first, Tập đoàn VNPT xác định AI là năng lực cốt lõi, động lực tăng trưởng và trụ cột cạnh tranh mới. Trên nền tảng định hướng đó, VNPT đã và đang đưa AI vào sản xuất, xử lý và cá nhân hóa dịch vụ, nội dung tạo ra những thay đổi đáng kể, nâng cao trải nghiệm của khách hàng MyTV.

[Infographic] Chứng khoán ngày 20/10: VN-Index tăng nhẹ 2,13 điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

[Infographic] Chứng khoán ngày 20/10: VN-Index tăng nhẹ 2,13 điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

Kết phiên giao dịch 20/10,VN-Index tăng nhẹ 2,13 điểm (+0,13%) lên mức 1.691,97 điểm, dưới kháng cự tâm lý 1.700 điểm. Độ rộng trên HoSE tích cực. Thanh khoản thị trường giảm, khối lượng giao dịch khớp lệnh giảm 6,0% so phiên trước. Khối ngoại tiếp tục bán ròng với giá trị bán đạt 220,5 tỷ đồng trên HoSE.

Quốc hội làm việc tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)

Khơi thông nguồn lực, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia

Việc sửa đổi Luật Điện lực nhằm tháo gỡ những vướng mắc về thể chế, mở rộng cơ hội đầu tư và hoàn thiện cơ chế vận hành thị trường điện. Cơ quan thẩm tra nhấn mạnh yêu cầu cải cách công khai, minh bạch, khơi thông nguồn lực đầu tư và bảo đảm an toàn, an ninh năng lượng.

Đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa 20 thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực thương mại

Đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa 20 thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực thương mại

Chiều 20/10, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Công thương Lê Mạnh Hùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Trụ sở của Vietcombank. (Nguồn ảnh: Vietcombank)

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh

Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.

Đánh thức tiềm năng

Đánh thức tiềm năng

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế với nhiều thách thức về môi trường, Tập đoàn TH là điển hình về đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh nhằm tăng cường hiệu quả kinh doanh, quản lý, năng lực và sức cạnh tranh, thúc đẩy phát triển xanh và bền vững.

Quang cảnh Hội thảo lấy ý kiến về Đề án “Phát triển kinh tế biên giới gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2035, định hướng đến năm 2050”. (Ảnh: THANH PHONG)

Phát triển kinh tế biên giới Tây Ninh thành trục tăng trưởng mới

Tây Ninh đặt mục tiêu đưa kinh tế biên giới trở thành trục tăng trưởng mới của quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, từng bước hình thành trung tâm giao thương, logistics kết nối vùng kinh tế trọng điểm phía nam với Campuchia và các nước ASEAN; bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền lãnh thổ.

Hoàn thiện những hạng mục cuối bên trong nhà ga hành khách sân bay Long Thành. (Ảnh: THIÊN VƯƠNG)

Đẩy nhanh tiến độ về đích sân bay Long Thành

Để bảo đảm mục tiêu khai thác Cảng hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành) vào cuối năm 2026, hiện nay các đơn vị liên quan đang dốc sức đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục giai đoạn về đích. Cùng với đó, vấn đề giao thông kết nối đồng bộ, nhất là với Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang được gấp rút hoàn thành.