Các số liệu dịch tễ cho thấy virus hợp bào hô hấp là nguyên nhân phổ biến gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới, ảnh hưởng đến khoảng 64 triệu người và gây ra 160.000 ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu. Điều đáng chú ý là khoảng 75% trường hợp nhập viện do virus hợp bào hô hấp lại xảy ra ở trẻ sinh đủ tháng, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh. Điều này cho thấy không có nhóm trẻ nào thực sự miễn nhiễm với nguy cơ từ loại virus này. Một nhóm nguy cơ khác là người cao tuổi, đặc biệt từ 60 tuổi trở lên lại đối diện nguy cơ bệnh diễn tiến nặng phải nhập viện và điều trị hồi sức tích cực. Trước thực tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, vấn đề virus hợp bào hô hấp không còn là câu chuyện riêng của từng nhóm tuổi mà trở thành thách thức y tế cộng đồng có tính liên thế hệ.
Phân tích sâu hơn về tác động của virus hợp bào hô hấp, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Lê Khắc Bảo, Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Người cao tuổi mắc virus hợp bào hô hấp có thể làm khởi phát hoặc khiến các bệnh nền như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trở nên trầm trọng hơn, đồng thời làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch như rối loạn nhịp tim, suy tim hay thiếu máu cục bộ”. Dữ liệu quốc tế cho thấy cứ 10 người cao tuổi nhiễm virus hợp bào hô hấp thì có một người phải điều trị tại khoa hồi sức tích cực. Không chỉ dừng lại ở giai đoạn cấp tính, virus hợp bào hô hấp còn để lại những hệ lụy lâu dài. Nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên cho thấy, sau khi xuất viện, khoảng một phần ba người bệnh gặp khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày, từ việc chăm sóc cá nhân đến vận động cơ bản. Cùng với đó là suy giảm chức năng hô hấp, nguy cơ tái nhập viện và giảm chất lượng sống là những di chứng không thể xem nhẹ.
Hiện Việt Nam có tốc độ già hóa dân số thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, với dự báo khoảng 21 triệu người từ 60 tuổi trở lên vào năm 2035, nguy cơ từ virus hợp bào hô hấp càng trở nên rõ nét hơn. Bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Hồng Tâm, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: “Trong khi chương trình tiêm chủng cho trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu thì tiêm chủng cho người lớn, đặc biệt là người cao tuổi và người có bệnh nền vẫn còn là lĩnh vực tương đối mới. Đây là nhóm cần được bảo vệ sớm và đầy đủ hơn trước các tác nhân truyền nhiễm như virus hợp bào hô hấp”.
Ông Tâm cho biết thêm, tại nhiều quốc gia việc tích hợp tiêm chủng cho người lớn vào hệ thống chăm sóc sức khỏe mang lại hiệu quả rõ rệt. Các chương trình tiêm phòng cúm mùa, phế cầu, virus hợp bào hô hấp,… được triển khai đồng bộ đã góp phần giảm tỷ lệ nhập viện, hạn chế biến chứng và giảm áp lực cho hệ thống y tế. Tiêm chủng còn giúp kiểm soát tốt hơn các bệnh mạn tính vốn dễ bị kích hoạt bởi nhiễm trùng. Trong nước, các cơ quan y tế đang từng bước xây dựng và hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn về tiêm chủng cho người lớn, bao gồm quy trình tư vấn, sàng lọc và theo dõi sau tiêm.
Quan trọng hơn, cách tiếp cận đối với virus hợp bào hô hấp cần được đặt trong mối liên hệ tổng thể của sức khỏe cộng đồng. Bảo vệ trẻ nhỏ hôm nay chính là xây nền tảng sức khỏe cho tương lai, trong khi bảo vệ người cao tuổi cũng góp phần giảm nguồn lây trong gia đình và xã hội. Từ thực tiễn điều trị, các chuyên gia y tế đưa ra thông điệp rõ ràng: phòng bệnh luôn hiệu quả hơn chữa bệnh. Chủ động tiêm chủng nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe là những giải pháp căn cơ để giảm thiểu tác động của virus hợp bào hô hấp đến cộng đồng.