Mức sinh giảm thách thức mục tiêu dân số và phát triển

Việt Nam luôn duy trì mức sinh thay thế (2,1 con/phụ nữ) trong gần 20 năm liên tục từ năm 2002 đến 2020, nhưng gần hai năm nay, mức sinh của phụ nữ giảm xuống 1,96 con và không đạt mức sinh thay thế. Mức sinh giảm sẽ ảnh hưởng tới cơ cấu, quy mô dân số, làm suy giảm nhóm dân số trong độ tuổi lao động, tăng nhanh quá trình già hóa dân số... Nếu không có những điều chỉnh chính sách, những giải pháp kịp thời để đưa mức sinh tăng trở lại đạt mức sinh thay thế, tương lai dân số Việt Nam giảm dần..., làm chậm quá trình phát triển của kinh tế-xã hội của đất nước.
Cán bộ Trạm Y tế xã Mường Cai, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La phát tờ rơi tuyên truyền về công tác dân số cho nhân dân. (Ảnh HUYỀN TRANG)
Cán bộ Trạm Y tế xã Mường Cai, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La phát tờ rơi tuyên truyền về công tác dân số cho nhân dân. (Ảnh HUYỀN TRANG)

Việt Nam đã chạm mốc hơn 100 triệu dân, là quốc gia đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á, và xếp thứ 15 thế giới, trong đó những người đang trong độ tuổi lao động chiếm hơn 66% tổng số dân.

Khi nguồn nhân lực giảm

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), năm 1999 trung bình mỗi phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi sinh đẻ có 2,33 con. Từ năm 2009 đến nay, tỷ suất sinh tăng nhẹ, hoặc giảm nhẹ quanh mức (2,1 con) và đến năm 2023, theo thống kê mới nhất, mỗi phụ nữ Việt Nam có 1,9 con, thấp nhất từ trước đến nay. Việt Nam đang gặp khó khăn nhất định, khi mà mục tiêu đến năm 2030 duy trì vững chắc mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ, quy mô dân số khoảng 104 triệu người.

Cục trưởng Dân số (Bộ Y tế) Lê Thanh Dũng cho biết, mức sinh thay thế là mức sinh trung bình của người phụ nữ trong toàn bộ cuộc đời của mình sinh đủ số con để thay mình thực hiện chức năng sinh đẻ và duy trì (nòi giống). Khi tổng tỷ suất sinh là 2,1 con/phụ nữ, sẽ được coi là đạt mức sinh thay thế. Khi mức sinh thấp, ảnh hưởng suy giảm quy mô dân số, cơ cấu tuổi của dân số trong tương lai, suy giảm nhóm dân số trong độ tuổi lao động; tác động mạnh vào quá trình di cư, tăng nhanh quá trình già hóa dân số, mất cơ hội tận dụng cơ cấu dân số vàng…

Hiện nay mức sinh giữa các vùng, miền đang có sự chênh lệch đáng kể. 21 tỉnh, thành phố có mức sinh thấp; thậm chí một số địa phương có mức sinh rất thấp, tập trung ở khu vực Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền trung.

Vùng Đông Nam Bộ là khu vực có tỷ lệ giảm sâu: năm 1999 vùng này vẫn còn tỷ lệ một phụ nữ sinh 2,9 con thì hiện nay giảm xuống chỉ còn 1,56 con. Mức sinh thấp không chỉ diễn ra ở một số đô thị, nơi có điều kiện kinh tế phát triển mà còn xuất hiện ở nhiều tỉnh có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn như ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh quốc gia về lương thực. Các tỉnh có mức sinh thấp chiếm khoảng 39,4% dân số cả nước, sẽ tác động rất lớn đến quá trình phát triển bền vững đất nước.

Theo PGS, TS Trần Thị Minh Thi, Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, những bài học từ những quốc gia có văn hóa-xã hội tương đồng với Việt Nam, đề cao văn hóa, chịu ảnh hưởng Nho giáo, đề cao giá trị con cái, gia đình như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều đối diện nguy cơ giảm sinh trong nhiều năm qua và đã có nhiều giải pháp để tăng sinh trở lại, nhưng đều không có dấu hiệu thành công.

Duy trì mức sinh bền vững là cực kỳ quan trọng trong bất kỳ cộng đồng quốc gia nào, nhất là những quốc gia phát triển. Nó quyết định sự tồn tại thành công của quốc gia đó. Thiếu con người là thiếu tất cả, thiếu nguồn lao động, ảnh hưởng đến kế hoạch quản trị xã hội tầm vĩ mô. Khi tuổi thọ tăng lên, mức sinh giảm đi, thì già hóa dân số rất nhanh.

Thực tế trong những năm gần đây, nguồn lao động là phụ nữ tăng rất cao, chiếm hơn 70%. Trong văn hóa Việt Nam, phụ nữ là người chăm sóc chính trong gia đình… với nhiều lý do như vậy, mức sinh giảm sẽ ảnh hưởng nhất định những vấn đề nêu trên.

Nhận diện những vấn đề xã hội mới nảy sinh, chúng ta cần cảnh báo thách thức từ mức sinh giảm, để có những điều chỉnh chính sách kịp thời mang tầm vĩ mô và giải pháp truyền thông phù hợp trước khi quá muộn để điều chỉnh tác động đến mức sinh.

Cục trưởng Lê Thanh Dũng chia sẻ, trong muôn vàn lý do dẫn đến việc giảm sinh, cũng còn có những lý do rất tự nhiên của xã hội. Khi quá trình đô thị hóa tăng nhanh cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội cuốn theo vòng xoáy phát triển, khiến giới trẻ mải mê không điểm dừng.

Bên cạnh đó, việc tìm kiếm nhà ở, chi phí sinh hoạt gia đình, chi phí nuôi dạy con… cũng là áp lực không nhỏ dẫn đến việc ngại kết hôn và sinh con. Tại các khu đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội, cơ sở giáo dục còn thiếu và bất cập, tỷ lệ số dân tại các khu này tính bằng cả phường, nhưng những dịch vụ để phục vụ cho người dân còn thấp và thiếu…

Mặt khác, một vấn nạn vẫn chưa có giải pháp kiểm soát chặt chẽ, là tình trạng nạo phá thai tại các cơ sở y tế công lẫn tư vẫn diễn ra tràn lan, có thể dẫn đến vô sinh hoặc vô sinh thứ phát. Cùng với mức sinh đang giảm thì cơ cấu dân số trẻ đang bắt đầu chuyển sang già hóa.

Năm 2019, cứ 2 trẻ em thì có 1 người cao tuổi, dự báo đến năm 2069 cứ 2 trẻ em sẽ có 3 người trên 60 tuổi. Như vậy, chúng ta sẽ phải đối diện với hai vấn đề tác động toàn diện đến phát triển kinh tế-xã hội, đó là mức sinh thấp và dân số già. Hệ lụy của những vấn đề này sẽ tác động lâu dài tới số phận của từng cá nhân, gia đình và toàn xã hội.

Bảo đảm mức sinh và nhân lực tương lai

Mức sinh tăng, hay giảm đều ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia. Nếu để mức sinh duy trì thấp trong một thời gian dài sẽ dẫn đến già hóa dân số nhanh, đồng thời thiếu hụt nguồn lao động, dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế-xã hội.

Do đó, nhiệm vụ đặt ra là cần duy trì mức sinh thay thế, giữ vững mức sinh đồng đều giữa các vùng, khu vực và không để mức sinh xuống quá thấp; nhất là ở các thành phố lớn, vùng kinh tế trọng điểm đang có mức sinh thấp.

Để giải quyết tình trạng chênh lệch mức sinh giữa các vùng, miền, bảo đảm giữ vững mức sinh thay thế, năm 2020 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 588/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030”.

Quyết định đã đưa ra mục tiêu cụ thể: tăng 10% tổng tỷ suất sinh ở các tỉnh, thành phố có mức sinh thấp; giảm 10% tổng tỷ suất sinh ở các tỉnh, thành phố có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những tỉnh, thành phố đã đạt mức sinh thay thế. Như vậy, đối với địa phương có mức sinh cao, cần tiếp tục áp dụng và nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích cộng đồng không có người sinh con thứ ba trở lên; hỗ trợ người dân thực hiện các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình.

Đối với địa phương đã đạt mức sinh thay thế và có mức sinh thấp, trước mắt cần rà soát, bãi bỏ các chính sách khuyến khích sinh con ít; từng bước ban hành, thực hiện chính sách khuyến khích sinh đủ hai con áp dụng cho các gia đình, cộng đồng...

Đi tìm giải pháp cho vấn đề giảm sinh, Thạc sĩ Mai Trung Sơn (Cục Dân số) cho biết, dự thảo Luật Dân số đang được xây dựng có đề xuất 4 biện pháp nhằm khuyến khích sinh đủ hai con tại tỉnh, thành phố có mức sinh thấp.

Đó là: đề xuất hỗ trợ một lần bằng tiền khi phụ nữ sinh con thứ 2; miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em lứa tuổi mầm non, tiểu học...; cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình được hưởng các chính sách khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực y tế; xây dựng môi trường, cộng đồng phù hợp tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng sinh đủ hai con, chăm sóc và nuôi dạy con tốt, chia sẻ trách nhiệm giữa các thành viên gia đình; quy định trách nhiệm xã hội của người sử dụng lao động đối với người lao động nuôi con nhỏ và các biện pháp khác.

Còn theo GS, TS Nguyễn Đình Cử, để tìm giải pháp cho mức sinh trở về mức sinh thay thế, trước mắt cần phải thay đổi chính sách, tuyên truyền linh hoạt hơn.

Trong thời điểm này, chính sách dân số cần một lối rẽ, cần phải thay đổi tư duy truyền thông về chính sách dân số, phải làm sao để tất cả mọi người trong chúng ta đều hiểu rằng không phải nói đến chính sách dân số là nói đến giảm sinh, kế hoạch hóa gia đình.

Cần gỡ bỏ ngay những chính sách chỉ phù hợp với giai đoạn giảm sinh trước đây, và phải có những chính sách cụ thể cho từng vùng, như vùng cần giảm sinh phải có chính sách riêng, còn vùng cần tăng sinh phải nới lỏng chính sách quy định số con và khuyến khích tăng sinh.

Kết hôn và sinh con là chuyện của mỗi cặp vợ chồng được pháp luật công nhận, nhưng kết hôn và sinh con cũng quyết định tương lai của mỗi quốc gia dân tộc. Duy trì mức sinh thay thế, bảo đảm mức sinh hợp lý giữa các vùng, miền để bảo đảm trong tương lai, Việt Nam sẽ có được một quy mô dân số phù hợp diện tích lãnh thổ, cân đối, hài hòa giữa các độ tuổi.

Việc duy trì ổn định tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động sẽ kéo dài cơ cấu “dân số vàng”; làm chậm lại thời gian chuyển đổi sang giai đoạn “già hóa dân số”, cải thiện chất lượng dân số.

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng Luật Dân số, đây cũng chính là giai đoạn các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc chính sách về dân số và phát triển phù hợp, tác động tích cực đến các vấn đề tương lai nguồn nhân lực, sự bền vững tương lai của quốc gia, dân tộc.

Có thể bạn quan tâm

Người dân tìm hiểu thông tin về chế độ dinh dưỡng dành cho người mắc các bệnh không lây nhiễm tại cơ sở khám, chữa bệnh. (Ảnh: VÂN VÂN)

Phòng bệnh sớm từ chế độ ăn uống

Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng ngày càng tăng do các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp… Xu hướng này thường gắn với thói quen ăn uống không lành mạnh, nhất là việc sử dụng nhiều muối, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ uống có đường của người dân.

Giám đốc Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk Nay Phi La tại một cuộc họp của Ủy ban nhân dân tỉnh. (Ảnh: Nguyễn Công Lý)

Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk cảnh báo tình trạng mạo danh cán bộ, công chức của Sở để lừa đảo, trục lợi

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk xuất hiện một số đối tượng mạo danh cán bộ, công chức Sở Y tế tỉnh và các cơ quan, đơn vị có liên quan để gọi điện, thông báo về việc kiểm tra hoạt động khám, chữa bệnh, đồng thời yêu cầu các cơ sở chuẩn bị tiền, quà hoặc cung cấp thông tin nhằm mục đích lừa đảo, trục lợi.

Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan trao Quyết định và tặng hoa chúc mừng Quỹ Phòng bệnh. (Ảnh: LÊ HẢO)

Quỹ Phòng bệnh chính thức ra mắt đi vào hoạt động

Ngày 20/8, Quỹ Phòng bệnh (Bộ Y tế) - một quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập giúp huy động, quản lý và phân bổ hiệu quả các nguồn lực hợp pháp, bổ sung kịp thời cho những khoảng trống mà ngân sách nhà nước chưa đáp ứng đủ cho công tác phòng bệnh chính thức ra mắt.

Bác sĩ thăm khám cho người bệnh. (Ảnh: BVCC)

Ngộ độc vì thói quen dùng thuốc giảm đau

Thuốc giảm đau, hạ sốt vốn quen thuộc nhưng nếu dùng tùy tiện, người bệnh có thể vô tình quá liều, tổn thương gan, thậm chí nguy hiểm tính mạng. Tại Bệnh viện Bạch Mai, nhiều trường hợp ngộ độc paracetamol phải nhập viện vì dùng trùng hoạt chất hoặc thuốc không rõ thành phần.

Các bác sĩ thực hiện ca can thiệp. (Ảnh: SỸ HIẾU)

Nắn chỉnh kín và cố định xương bằng đinh nội tủy đàn hồi cho cháu bé bị gãy xương cánh tay

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội (cơ sở Linh Đàm) vừa xử lý nắn chỉnh kín và cố định xương bằng đinh nội tủy đàn hồi qua hai đường rạch da khoảng 5mm, giúp cháu bé hạn chế bóc tách mô mềm, bảo tồn tối đa màng xương, nguồn cấp máu và vùng sụn tăng trưởng của trẻ.

Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y trao Bằng khen của Bộ trưởng Quốc phòng tặng Bộ môn-Khoa Thận và Lọc máu. (Ảnh: TUẤN DŨNG)

Nâng cao toàn diện chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển kỹ thuật chuyên sâu trong điều trị bệnh lý về thận

Ngày 20/8, tại Hà Nội, Bộ môn-Khoa Thận và Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân y) tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày truyền thống (21/8/2006-21/8/2026) và đón nhận Bằng khen của Bộ trưởng Quốc phòng. Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y dự và chúc mừng đơn vị.

Ê-kíp các bác sĩ Bệnh viện K thực hiện phẫu thuật cho người bệnh. (Ảnh: BVCC)

Phẫu thuật thay toàn bộ xương đùi, giữ lại chân cho bệnh nhân bị ung thư xương

Với người bệnh 59 tuổi, việc đối diện với căn bệnh ung thư xương, nguy cơ phải cắt bỏ toàn bộ xương đùi là một thách thức rất lớn về cả sức khỏe và tâm lý. Do đó, cân nhắc phương án phẫu thuật loại bỏ tổn thương mà vẫn giữ được đôi chân là mong muốn của cả ê-kíp bác sĩ và gia đình người bệnh.

Cán bộ y tế tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi chủ động dự phòng, sàng lọc để đẩy lùi bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung. (Ảnh: ĐỖ THỦY)

Phát hiện sớm để điều trị hiệu quả

Ung thư vú, ung thư cổ tử cung là hai bệnh tác động tiêu cực đối với sức khỏe phụ nữ, chiếm tỷ lệ mắc mới và tử vong cao trong nhóm ung thư ở nữ giới. Tuy nhiên, nếu được dự phòng và phát hiện sớm bằng các biện pháp sàng lọc hiệu quả, đều có thể giảm tỷ lệ tử vong vì căn bệnh nêu trên.

Tổn thương do giun rồng. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Thêm một ca giun rồng được phát hiện tại Việt Nam

Bệnh viện Đặng Văn Ngữ vừa tiếp nhận bệnh nhân nam 49 tuổi ở Lào Cai, có 2 tổn thương trên cẳng tay trái. Trước khi đến viện, người bệnh đã được người nhà kéo ra hai đoạn giun màu trắng dài khoảng 10-20cm. Đây là trường hợp mắc giun rồng thứ 44 được ghi nhận tại Việt Nam từ năm 2020 đến nay.

Bệnh nhân bình phục sức khỏe và được ra viện sáng 19/8.

Một tháng nguy kịch do Covid-19, bệnh nhân được cứu sống nhờ can thiệp ECMO

Mắc Covid-19 biến chứng ARDS, sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, nam bệnh nhân 43 tuổi từng ở trong tình trạng nguy kịch, phải thở máy, lọc máu và sử dụng ECMO. Sau gần một tháng hồi sức tích cực với nhiều kỹ thuật chuyên sâu tại Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), bệnh nhân đã hồi phục, được cai máy thở và xuất viện sáng 19/8.