Lĩnh vực ngoại khoa có nhiều thành tựu đáng tự hào

Bộ môn Ngoại luôn gắn liền với với lịch sử phát triển của Trường đại học Y Hà Nội ngay từ những ngày đầu thành lập, được lãnh đạo bởi các giáo sư đầu ngành, nổi tiếng, có uy tín cao ở trong và ngoài nước. Bộ môn Ngoại đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đào tạo nhiều thế hệ nhân lực y tế chất lượng cao cho cả nước.
Thứ trưởng Y tế trao tặng Bằng khen cho những GS đầu ngành, những người có nhiều đóng góp cho quá trình xây dựng và phát triển của Bộ môn Ngoại. (Ảnh: Vũ Cường)
Thứ trưởng Y tế trao tặng Bằng khen cho những GS đầu ngành, những người có nhiều đóng góp cho quá trình xây dựng và phát triển của Bộ môn Ngoại. (Ảnh: Vũ Cường)

Chiều 6/10, Bộ môn Ngoại, Trường đại học Y Hà Nội kỷ niệm 75 năm hình thành và phát triển với chủ đề “Trân trọng quá khứ-hướng tới tương lai”.

Theo GS, TS Đoàn Quốc Hưng, Trưởng Bộ môn Ngoại, mốc lịch sử là ngày 6/10/1947 tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, Trường đại học Y Hà Nội tổ chức khai giảng với chương trình giảng dạy chủ đạo là ngoại khoa do GS Hồ Đắc Di và GS Tôn Thất Tùng phụ trách, để đáp ứng nhu cầu tiếp nhận, tổ chức khám chữa cho thương bệnh binh. Và mới đây, đại diện các thế hệ thầy giảng viên Bộ môn đã đề nghị Hội đồng trường và Ban Giám hiệu Trường đại học Y Hà Nội công nhận ngày 6/10 là ngày thành lập Bộ môn Ngoại.

Ngoại khoa là một trong những chuyên ngành quan trọng bậc nhất của y học. Lịch sử y văn thế giới đã ghi nhận nhiều sự kiện, nhiều câu chuyện liên quan đến ngoại khoa và trong số đó có những sự kiện đã trở thành kinh điển của ngành y nói riêng, cũng như đột phá về khoa học kỹ thuật trong từng giai đoạn của tiến trình lịch sử thế giới.

Tại Việt Nam, lĩnh vực ngoại khoa đã có một quá trình phát triển lâu dài với những thành tựu đáng để tự hào. Y học trong thời kỳ hiện đại của Việt Nam từ sau năm 1945 trở lại đây đã ghi dấu ấn của nhiều bác sĩ ngoại khoa nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn được thế giới biết đến, ghi nhận và khâm phục, như GS Tôn Thất Tùng, GS Nguyễn Trinh Cơ, GS Nguyễn Dương Quang, GS Nguyễn Bửu Triều...

Đến nay ngành Y tế Việt Nam đã làm chủ công nghệ ghép và ghép được 6/6 tạng chủ yếu là tim, gan, phổi, thận, tụy, ruột; làm chủ các công nghệ phẫu thuật nội soi và can thiệp tim mạch với chi phí giảm từ ½ đến 1/3 so với nước ngoài, góp phần quan trọng trong việc tăng cơ hội, tăng khả năng tiếp cận của người bệnh đối với những kỹ thuật cao trong điều trị bệnh hiểm nghèo.

Hằng năm có hàng trăm chuyên gia, học viên, sinh viên từ các nước trong và ngoài khu vực đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Trường đại học Y Hà Nội để trao đổi kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực ngoại khoa, góp phần trau dồi kiến thức cho nhân viên y tế của Việt Nam cũng như theo chiều ngược lại với các bạn bè quốc tế.

Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, đến nay Bộ môn Ngoại là bộ môn lâm sàng lớn nhất trong 43 bộ môn của Trường đại học Y Hà Nội. Sự phát triển của bộ môn Ngoại gắn liền với các bệnh viện thực hành, trong đó nổi bật nhất là Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức - một trung tâm y tế chuyên sâu, được xếp hạng bệnh viện chuyên khoa đặc biệt, có quy mô 1500 giường bệnh với hơn 2.400 thầy thuốc, cán bộ và nhân viên y tế.

Bộ môn Ngoại Trường đại học Y Hà Nội cùng Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức luôn là lá cờ đầu trong nền y học nước nhà, được Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu tập thể và cá nhân cao quý như: hai danh hiệu Anh hùng Lao động, ba Giải thưởng Hồ Chí Minh, hai Giải thưởng Nhà nước về Khoa học công nghệ…

Bộ môn Ngoại Trường đại học Y Hà Nội cùng Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức luôn là lá cờ đầu trong nền y học nước nhà, được Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu tập thể và cá nhân cao quý.

Phát biểu ý kiến tại lễ kỷ niệm, GS, TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Y tế biểu dương những cống hiến, sự tận tâm hết mình của đội ngũ cán bộ cũng như kết quả đạt được trong 75 năm hình thành và phát triển của Bộ môn Ngoại. Những thành tích đã đạt được của Bộ môn Ngoại đang góp phần làm rạng rỡ hơn thành tích đáng tự hào của Trường đại học Y Hà Nội trong dịp tiến tới kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống của Trường.

Nhân dịp này, Thứ trưởng Trần Văn Thuấn cũng đề nghị lãnh đạo và cán bộ Bộ môn Ngoại tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, tiếp bước các các thế hệ đi trước; chủ động, năng động trong việc tăng cường việc tiếp cận với những phương pháp giảng dạy mới trên thế giới để nghiên cứu truyền tải hiệu quả cho các sinh viên; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế…; phát triển các kỹ thuật cao trong các lĩnh vực phẫu thuật nội soi, phẫu thuật ít xâm lấn, ghép tạng như tim, gan, phổi, thận, chỉnh hình…

Bôn môn tiếp tục mở rộng cơ sở thực hành tại các bệnh viện không phân biệt công-tư, miễn là đáp ứng tốt nhu cầu thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe, qua đó tăng cường thực hành của học viên, sinh viên cũng như tiếp cận khoa học kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị hiện đại trong điều kiện đầu tư công còn nhiều khó khăn, thiếu thốn...

Đối với các cơ sở thực hành, tiếp tục phối hợp, ủng hộ và giúp đỡ Trường đại học Y Hà Nội cũng như Bộ môn Ngoại, chung tay đào tạo nhân lực y tế. Việc giúp đỡ các cơ sở đào tạo nhân lực y tế chính là tự giúp mình để có nhân lực phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.