Đó cũng là "hạ tầng vô hình" tạo nên sức hấp dẫn của nhiều điểm đến hàng đầu thế giới, khiến du khách sẵn sàng chi trả cho những trải nghiệm có giá trị cao và yên tâm khám phá.
Trong cuộc trò chuyện với Báo Nhân Dân về những "tấm lưới an toàn" phía sau các hành trình, chúng tôi "chia" Bác sĩ Ngô Đức Hùng (Phó Giám đốc Trung tâm Cấp cứu và Hồi sức tích cực, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội) thành hai vai: một bác sĩ cấp cứu nhiều năm gắn với phản ứng khẩn cấp và một người đam mê du lịch, từng đặt chân đến nhiều điểm đến trên thế giới.
Từ hai góc nhìn ấy là cách nhiều quốc gia đã biến y tế thành nền tảng để phát triển đa dạng các loại hình du lịch. Cũng từ đó, đặt ra câu hỏi cho Việt Nam: "Làm thế nào để cảnh đẹp không chỉ thu hút du khách mà còn đủ an toàn để mở ra những sản phẩm du lịch có giá trị cao?"
Giá trị cạnh tranh của điểm đến an toàn
PV: Nhiều quốc gia "bán" cảnh đẹp, trải nghiệm và cả cảm giác an tâm cho du khách thông qua hệ thống cứu hộ, cấp cứu và bảo hiểm. Theo anh, yếu tố này có vai trò như thế nào trong việc tạo nên sức cạnh tranh của một điểm đến?
Bác sĩ Ngô Đức Hùng: Tại nhiều quốc gia, y tế không chỉ xuất hiện khi có người cần điều trị mà còn bao gồm toàn bộ hệ thống bảo đảm an toàn cho du khách: từ cấp cứu ngoài cộng đồng, mạng lưới phản ứng nhanh đến khả năng hỗ trợ khi sự cố xảy ra.
Với những người lựa chọn các hành trình khám phá hay mạo hiểm, câu hỏi này là điều rất quan trọng bởi du khách không chỉ quan tâm điểm đến có đẹp hay không mà nếu xảy ra tai nạn, việc cứu hộ và cấp cứu kịp còn được thực hiện thế nào.
Dưới góc độ một người làm cấp cứu ngoại viện nhiều năm, tôi cho rằng đây là lĩnh vực Việt Nam vẫn còn khá sơ khai. Trong khi ở nhiều quốc gia, hệ thống y tế đã trở thành một phần của sản phẩm du lịch thì ở chúng ta, mảng bảo đảm an toàn y tế cho du khách vẫn chưa thực sự được định hình.
- Báo cáo của Research & Markets ước tính quy mô thị trường du lịch mạo hiểm toàn cầu năm 2024 đạt 351 tỷ USD.
- Du khách thuộc phân khúc này chi trung bình 265 USD mỗi đêm, thời gian lưu trú khoảng 11 ngày, gần 3.000 USD mỗi chuyến đi.
- Tour khám phá hang Sơn Đoòng, hiện có giá khoảng 3.000 USD (hơn 70 triệu đồng) mỗi khách và chỉ đón khoảng 1.000 khách mỗi năm. Mức giá này cao gấp nhiều lần các tour nghỉ dưỡng thông thường nhưng thường xuyên kín chỗ trước nhiều tháng.
PV: Qua những trải nghiệm ở nhiều quốc gia, anh nhìn nhận như thế nào về cách các nước xây dựng hệ thống cứu hộ y tế phục vụ du lịch, đặc biệt là du lịch mạo hiểm?
Bác sĩ Ngô Đức Hùng: Điều khiến tôi ấn tượng là ở nhiều quốc gia, hệ thống cứu hộ gần như được xem là một phần không thể thiếu của sản phẩm du lịch.
Như ở Nepal, trước khi tham gia các tour leo núi, du khách gần như bắt buộc phải có bảo hiểm du lịch. Đồng thời, các đơn vị tổ chức tour đều kết nối sẵn với hệ thống vận chuyển cấp cứu. Nếu xảy ra sự cố, bảo hiểm du lịch sẽ chi trả các chi phí cứu hộ và điều trị theo phạm vi hợp đồng.
Hay khi tôi đến Tây Tạng, trên một con đèo cao 6.200m so với mực nước biển đã có ít nhất ba trạm sơ cứu, từ lực lượng của chính quyền địa phương đến các đơn vị vận chuyển quốc tế.
Nếu du khách bị sốc độ cao hoặc gặp tai nạn, các trạm sẽ tiếp nhận ngay với đầy đủ trang thiết bị và nhân viên cứu hộ túc trực. Chỉ khoảng 30 phút sau, trực thăng đã có thể tiếp cận để đưa nạn nhân xuống núi.
Dưới góc độ một người làm cấp cứu ngoại viện nhiều năm, tôi cho rằng đây là lĩnh vực Việt Nam vẫn còn khá sơ khai. Trong khi ở nhiều quốc gia, hệ thống y tế đã trở thành một phần của sản phẩm du lịch thì ở chúng ta mảng bảo đảm an toàn y tế cho du khách vẫn chưa thực sự được định hình.
Người tham gia trekking được khuyến nghị mua bảo hiểm du lịch bao gồm chi phí cứu hộ trực thăng (helicopter evacuation) và điều trị y tế. Một chuyến cứu hộ trực thăng tại khu vực Everest có thể tiêu tốn hàng nghìn USD.
Nepal Tourism Board
PV: Những điểm đến có nhiều hoạt động khám phá, mạo hiểm thường mang lại giá trị kinh tế rất cao. Theo anh, Việt Nam cần học hỏi gì để phát triển phân khúc này và xây dựng hệ thống đủ tin cậy cho du khách?
Bác sĩ Ngô Đức Hùng: Dưới góc độ một người yêu thích du lịch mạo hiểm, từ lặn biển, leo núi đến khám phá những vùng xa xôi, tôi cho rằng rất khó để một doanh nghiệp du lịch có thể tự mình đáp ứng toàn bộ yêu cầu, đặc biệt là công tác y tế. Điều đó đòi hỏi nguồn lực rất lớn.
Vì vậy, ở nhiều quốc gia, người ta xây dựng một hệ sinh thái phối hợp giữa doanh nghiệp lữ hành, lực lượng cứu hộ, cơ sở y tế và các công ty bảo hiểm.
Điểm tôi ấn tượng là mọi quy trình đều được chuẩn hóa ngay từ đầu. Trước khi tham gia các hoạt động mạo hiểm, du khách được thông tin đầy đủ về mức độ nguy hiểm và những rủi ro có thể gặp phải, kể cả nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng.
Các hướng dẫn viên đều phải có chứng chỉ cứu hộ; tại khu vực tổ chức luôn bố trí lực lượng ứng cứu thường trực, kết nối với hệ thống vận chuyển cấp cứu và cơ sở y tế. Khi xảy ra sự cố, toàn bộ mạng lưới sẽ lập tức phối hợp xử lý.
Ở Việt Nam, theo tôi, đây vẫn là khoảng trống cần được hoàn thiện, khi xảy ra sự cố, các bên rất dễ phát sinh tranh cãi về trách nhiệm. Về lâu dài, cần đầu tư thêm trang thiết bị phù hợp với đặc thù hoạt động và hoàn thiện các bộ tiêu chuẩn, pháp lý cho hệ thống cấp cứu ngoài bệnh viện và bảo đảm an toàn y tế trong du lịch.
Xây dựng điểm tựa cho những hành trình
PV: Sau những trải nghiệm của một bác sĩ cấp cứu và một người thường xuyên du lịch khám phá, anh cho rằng điều gì sẽ tạo nên lợi thế của Việt Nam?
Bác sĩ Ngô Đức Hùng: Theo tôi, chắc chắn là có những lợi thế để cạnh tranh. Việt Nam có cảnh quan đẹp, nền kinh tế phát triển, môi trường an ninh tốt và chi phí du lịch cạnh tranh so với nhiều quốc gia trong khu vực.
Nhưng để trở thành một điểm đến thực sự hấp dẫn, chỉ có cảnh đẹp là chưa đủ. Thực tế, du khách quốc tế rất quan tâm đến vấn đề này. Khi gặp vấn đề về sức khỏe, họ thường tìm kiếm thông tin trên các cẩm nang du lịch hoặc diễn đàn quốc tế để biết nên đến cơ sở y tế nào.
Những cái tên như Bệnh viện Việt Pháp, hệ thống Family hay Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã được nhiều du khách “truyền tai” nhau. Riêng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, gần như ngày nào chúng tôi cũng tiếp nhận khách quốc tế đến cấp cứu vì các vấn đề sức khỏe phát sinh trong quá trình du lịch.
PV: Qua thực tế tiếp nhận nhiều khách du lịch quốc tế đến khám, cấp cứu, theo anh đâu là những rào cản lớn nhất khi họ phải tiếp cận dịch vụ y tế tại Việt Nam?
Bác sĩ Ngô Đức Hùng: Theo tôi, điều họ lo lắng nhất là chi phí. Họ không biết chi phí điều trị sẽ như thế nào và cơ sở y tế mình đến có liên kết với hệ thống bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm du lịch quốc tế hay không.
Hiện nay, phần lớn bệnh viện công ở Việt Nam vẫn chưa kết nối chặt chẽ với các mạng lưới bảo hiểm quốc tế. Vì vậy, sau khi ra viện, nhiều du khách phải tự mang hóa đơn, chứng từ về làm việc với công ty bảo hiểm hoặc đơn vị lữ hành để được thanh toán. Đây là một quy trình khá mất thời gian.
Thay vì để du khách tự ứng trước chi phí rồi về nước làm thủ tục bồi hoàn, nhiều bệnh viện tại Singapore, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ…xây dựng cơ chế "direct billing" với các hãng bảo hiểm quốc tế. Bệnh viện sẽ trực tiếp xác minh quyền lợi, xin chấp thuận điều trị và thanh toán với doanh nghiệp bảo hiểm.
Các bệnh viện nên chủ động hợp tác với doanh nghiệp lữ hành và các công ty bảo hiểm du lịch quốc tế. Điều đó không chỉ tạo thuận lợi cho người bệnh mà còn góp phần quảng bá hình ảnh của chính cơ sở y tế.
PV: Theo anh, năng lực sơ cứu cộng đồng của Việt Nam hiện nay đang ở đâu và cần bắt đầu từ đâu để hình thành một hệ thống đủ sức bảo vệ người dân cũng như du khách?
Bác sĩ Ngô Đức Hùng: Nếu chỉ dùng một từ để đánh giá thì đó là rất sơ khai.
Hiện nay, các thiết bị sơ cứu vẫn còn khá vắng bóng trong cộng đồng. Khi xảy ra sự cố, nhiều người gần như vẫn phải "tay không bắt giặc". Ngay cả ở các đô thị lớn, tình trạng này cũng khá phổ biến, chưa nói đến vùng sâu, vùng xa.
Nhưng thiết bị chỉ là một phần của câu chuyện. Ngay cả khi có sẵn một vali sơ cứu, không ít người vẫn lúng túng vì không biết sử dụng các dụng cụ bên trong. Khoảng trống lớn nhất hiện nay là kiến thức và kỹ năng sơ cứu trong cộng đồng.
Việt Nam cần một chương trình quy mô quốc gia để phổ cập kỹ năng sơ cứu, đồng thời xây dựng một bộ tiêu chuẩn chuyên môn thống nhất. Hiện nay, có người học theo hướng dẫn của châu Âu, có người theo tài liệu châu Á; mỗi hệ thống đều có cơ sở khoa học riêng, nhưng nếu thiếu một chuẩn chung thì người dân và cả các đơn vị triển khai sẽ rất khó áp dụng đồng bộ.
PV: Vì sao nhóm của anh lựa chọn Đà Nẵng là địa phương đầu tiên triển khai dự án máy sốc điện tự động (AED) cho cộng đồng? Sau gần một năm triển khai, mô hình này mang lại những bài học gì cho việc xây dựng một điểm đến an toàn?
Bác sĩ Ngô Đức Hùng: Khi cùng các cộng sự xây dựng dự án AED cho cộng đồng, chúng tôi đã cân nhắc rất nhiều về địa điểm triển khai đầu tiên.
Có ý kiến cho rằng nên đưa máy đến vùng sâu, vùng xa vì khó tiếp cận y tế. Tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn bắt đầu từ các đô thị có điều kiện kinh tế, nhận thức về sức khỏe và hạ tầng tốt hơn. Đó cũng là cách xây dựng hình ảnh một thành phố du lịch an toàn.
Dự án do Trường Đại học Y Hà Nội phối hợp với FPT triển khai từ cuối năm 2025, đến nay đã lắp đặt khoảng 50 máy AED tại các trạm y tế trên địa bàn.
Khánh Hòa cũng đang nghiên cứu áp dụng mô hình tương tự trong định hướng phát triển du lịch. Giá trị của AED không chỉ nằm ở khả năng cấp cứu người ngừng tim mà sự hiện diện của thiết bị này còn là biểu tượng cho một hệ thống phản ứng nhanh, giúp người dân và du khách cảm thấy yên tâm hơn khi đến một điểm đến.
Tuy nhiên, lắp đặt thiết bị mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn là xây dựng một mạng lưới kết nối để mọi người biết máy đang ở đâu và có thể tiếp cận ngay khi cần. Vì vậy, ngay từ đầu, chúng tôi đã đề xuất xây dựng bản đồ số hiển thị toàn bộ vị trí đặt AED thay vì chỉ đầu tư mua sắm thiết bị.
Ở Nhật Bản, AED được đặt tại nhà ga, quầy bán vé; nhiều nước Đông Nam Á bố trí tại quầy bảo vệ; còn ở các sân bay quốc tế, thiết bị luôn được đặt ở vị trí dễ nhận biết cùng hệ thống biển chỉ dẫn rõ ràng.
Sau gần một năm triển khai, kết quả bước đầu khá tích cực. Không chỉ người dân biết đến hệ thống AED nhiều hơn mà chính các nhân viên y tế cơ sở cũng chủ động học thêm kỹ năng sơ cứu và sử dụng thiết bị. Đây là tín hiệu rất đáng mừng bởi AED vốn được thiết kế cho cộng đồng nên ngay cả người chưa qua đào tạo cũng có thể sử dụng nếu làm đúng quy trình.
PV: Việt Nam nên xây dựng mạng lưới các bệnh viện như thế nào để tận dụng hiệu quả hệ thống y tế hiện có trong công tác tiếp nhận khách du lịch trong trường hợp xảy ra sự cố?
Bác sĩ Ngô Đức Hùng: Tôi từng chứng kiến một thành viên trong đoàn bị sốc độ cao khi đi Tây Tạng và lập tức được đưa đến bệnh viện được chỉ định tiếp nhận khách du lịch. Muốn xây dựng một điểm đến an toàn về y tế thì cần thiết lập một quy trình bài bản để khi xảy ra sự cố, cả du khách lẫn doanh nghiệp du lịch đều biết nên đưa người bệnh đến đâu.
Khi triển khai dự án máy sốc điện tự động tại Đà Nẵng, chúng tôi lựa chọn các bệnh viện khu vực làm đầu mối chuyên môn, bởi đây là những đơn vị đang quản lý mạng lưới trạm y tế. Mỗi bệnh viện phụ trách một số trạm y tế, cử bác sĩ, ưu tiên bác sĩ cấp cứu, hỗ trợ chuyên môn; từ đó, các trạm y tế tiếp tục kết nối với các điểm sơ cứu trong cộng đồng.
Khi xảy ra tình huống khẩn cấp, người dân và du khách chỉ cần liên hệ đầu mối gần nhất để được hướng dẫn và hỗ trợ ngay. Đồng thời, các bệnh viện đầu mối cũng cần liên kết với doanh nghiệp lữ hành, các công ty bảo hiểm du lịch và mạng lưới sơ cứu tại địa phương.
Mỗi quốc gia có một hệ thống y tế khác nhau nên không cần sao chép nguyên mẫu. Việt Nam nên tận dụng hạ tầng y tế sẵn có và điều quan trọng là tổ chức thành một mạng lưới vận hành thống nhất và ổn định.