Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và lâm sản vượt khó

Là ngành hàng chủ lực trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản xuất khẩu, nhưng ngành gỗ và lâm sản hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức. Để đạt giá trị xuất khẩu 16,5 tỷ USD trong năm 2022 như mục tiêu đã đề ra, các doanh nghiệp còn rất nhiều việc phải làm trong những tháng cuối năm…
Sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu tại Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang.
Sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu tại Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang.

Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản trong tháng 7/2022 chỉ đạt 1,41 tỷ USD, giảm 5,5% so với tháng 6/2022 và giảm 1,6% so cùng kỳ năm 2021. Như vậy, đây là tháng thứ hai, xuất khẩu gỗ và lâm sản bị giảm sút.

Khó khăn trong xuất khẩu

Thời gian vừa qua, cung-cầu gỗ nguyên liệu và các mặt hàng gỗ trên thế giới tại các thị trường lớn như Mỹ và EU có nhiều biến động do chi phí sản xuất, vận chuyển và sinh hoạt tăng cao. Nhu cầu tiêu dùng, nhất là đối với các nhóm hàng hóa không thiết yếu, giảm.

Với độ hội nhập sâu và rộng với thị trường thế giới, ngành gỗ Việt Nam đang chịu tác động trực tiếp của các biến động này, đặc biệt trên phương diện suy giảm xuất khẩu ở các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ, EU và Anh.

Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu của các hiệp hội gỗ (VIFOREST, FPA Bình Định, BIFA, HAWA, DOWA) và Forest Trends cho thấy, trong tổng số 52 doanh nghiệp tham gia khảo sát trong những tháng đầu năm 2022 có tới 33 doanh nghiệp có doanh thu từ thị trường Mỹ giảm (trung bình 39,6%); 19 doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU cũng bị sụt giảm doanh thu (trung bình 42,2%).

Trong đó, có một số doanh nghiệp mất hẳn nguồn thu từ thị trường này trong những tháng gần đây. Khoảng 71% số doanh nghiệp cho biết tình hình đơn hàng từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục giảm. Theo đánh giá của các doanh nghiệp, với tình hình thị trường như hiện nay, nguồn thu sẽ giảm khoảng 44% trong cả năm 2022.

Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) nhận định, trước tình hình biến động mạnh tại các thị trường xuất khẩu chủ chốt, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều sức ép, nhất là vốn vay ngân hàng, chi trả người lao động và nguyên liệu đầu vào.

Trước tình hình này, để duy trì sản xuất và tránh đứt gãy chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp đã phải vận dụng nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng khó khăn. Phần lớn doanh nghiệp (hơn 70%) lựa chọn giảm quy mô sản xuất để cắt giảm chi phí, như nghỉ ngày thứ bảy, không tăng ca, chỉ tổ chức sản xuất 8 tiếng/ngày, 5 ngày/tuần, sắp xếp sản xuất tinh gọn để giảm chi phí sản xuất.

Một số ít doanh nghiệp đã tìm cách dịch chuyển theo hướng đa dạng hóa thị trường và sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp gỗ hiện đang đối mặt với các khó khăn về cả vốn vay và chi phí đầu vào sản xuất, trong bối cảnh nguồn thu giảm sút. Các biện pháp ứng phó mà các doanh nghiệp hiện đang áp dụng chỉ mang tính chất ngắn hạn.

Nếu thị trường tiếp tục diễn biến như hiện nay, các giải pháp ngắn hạn này sẽ không giúp được nhiều cho doanh nghiệp trong việc duy trì các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Bên cạnh các giải pháp về mặt cơ chế, chính sách và thường xuyên cập nhật thông tin về biến động thị trường được các doanh nghiệp kiến nghị, một câu hỏi lớn đặt ra ở đây là làm thế nào để nâng cao tính chống chịu của ngành gỗ trong tương lai, để bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.

Theo đánh giá của tổ chức Forest Trends, bức tranh thực trạng thị trường đầu ra của sản phẩm gỗ và lâm sản xuất khẩu nhìn chung tương đối ảm đạm, thể hiện qua sự tụt giảm nhanh về kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp trong những tháng gần đây. Các tín hiệu của thị trường xuất khẩu đối với các tháng còn lại của năm 2022 cũng không lạc quan. Điều này cho thấy ngành gỗ rất khó đạt được mục tiêu xuất khẩu của cả năm 2022 mà Chính phủ đề ra.

Cần giải pháp thích ứng, linh hoạt

Theo Đề án “Phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021-2030” đã được Chính phủ phê duyệt, mục tiêu chung đến năm 2030, ngành công nghiệp chế biến gỗ trở thành một ngành kinh tế quan trọng; phấn đấu để Việt Nam nằm trong nhóm các nước hàng đầu thế giới về sản xuất, chế biến, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.

Trong đó, giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt 20 tỷ USD vào năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt hơn 18,5 tỷ USD; 25 tỷ USD vào năm 2030. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cùng với việc hỗ trợ về vốn, cơ chế, chính sách phù hợp, thông thoáng hơn, cần có giải pháp khuyến khích phát triển rừng trồng gỗ lớn, không khai thác rừng và sử dụng cây rừng trồng còn non trong chế biến sản phẩm gỗ.

Đồng thời, có biện pháp để ngăn chặn tình trạng sử dụng gỗ rừng trồng trong sản xuất dăm gỗ nhằm tập trung nguyên liệu ổn định, bền vững cho sản xuất và chế biến gỗ xuất khẩu...

Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (Hawa) Nguyễn Chánh Phương cho rằng, đứng trước những khó khăn hiện nay, các doanh nghiệp ngành gỗ rất mong ngành ngân hàng giảm lãi suất, giãn nợ, khoanh nợ, qua đó góp phần giúp doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh để vượt qua khó khăn trong giai đoạn này.

Trong đó, đề nghị Chính phủ thúc đẩy các ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Đối với các chính sách thuế, phí, các doanh nghiệp mong muốn Nhà nước cho phép giảm, chậm thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân, giảm tiền thuê đất, hoàn thuế giá trị gia tăng nhanh nhất nhằm trả vốn cho doanh nghiệp và giảm chi phí xuất nhập khẩu công-ten-nơ cảng biển.

Nhiều doanh nghiệp đề nghị Chính phủ đưa ra các biện pháp kịp thời để bình ổn giá cả, hỗ trợ công nhân đóng bảo hiểm xã hội, gia hạn thời gian đóng bảo hiểm xã hội và thiết kế các gói cứu trợ để kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn trước mắt và ổn định sản xuất trong dài hạn.

Theo Chủ tịch VIFOREST Đỗ Xuân Lập, để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp ngành gỗ và lâm sản, bên cạnh việc các doanh nghiệp phải chủ động, thích ứng linh hoạt với tình hình mới, cần nâng tỷ trọng nguồn gỗ rừng trồng trong nước là nguyên liệu đầu vào trong các sản phẩm xuất khẩu nhằm thay thế cho nguồn gỗ nhập khẩu đang chiếm tỷ trọng còn khá lớn hiện nay.

Tuy nhiên để làm được điều này cần có sự chuyển đổi căn bản trong quản trị rừng tại Việt Nam hiện nay, trong đó tập trung vào việc phát triển liên kết, gắn kết giữa vùng nguyên liệu và các trung tâm chế biến sâu, hợp tác đầu tư vùng với các hộ trồng rừng.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần quan tâm tới việc cơ cấu lại nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Cùng với việc tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư chế biến gỗ và lâm sản, ngành lâm nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với hiệp hội gỗ các địa phương, nắm bắt những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, kịp thời tham mưu xử lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ngành gỗ.

Bên cạnh đó, chính quyền các địa phương, lực lượng kiểm lâm tăng cường kiểm tra hồ sơ lâm sản; rà soát diện tích đất sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu gắn với cơ sở chế biến phù hợp quy hoạch của địa phương; bố trí nguồn vốn hỗ trợ, phát triển các mô hình liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp chế biến gỗ với các chủ rừng trong trồng rừng gỗ lớn, thực hiện chứng chỉ rừng...

Để chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, các doanh nghiệp cần thường xuyên phản ánh kịp thời những bất cập trong việc thực thi các quy định pháp luật; kiến nghị Nhà nước tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực cho phát triển ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ.

Mặt khác, cần tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm; kịp thời phát hiện và thông báo đến các cơ quan quản lý nhà nước để xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước trong việc ứng phó các vụ việc phòng vệ thương mại.

Các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh; ứng phó phù hợp với những biến động của thị trường; thực hiện nghiêm quy định về hồ sơ nguồn gốc lâm sản và các quy định khác có liên quan trong hoạt động sản xuất, kinh doanh gỗ và lâm sản…

Có thể bạn quan tâm

Ảnh minh họa: THU LAN

Sáng 5/10, giá bạc thế giới tăng nhẹ

Sáng 5/10, giá bạc thế giới đảo chiều tăng lên ngưỡng hơn 61 USD/ounce giữa lúc số liệu việc làm của Mỹ thấp hơn dự báo làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất. Trong nước, nhiều doanh nghiệp cũng điều chỉnh giá bạc tăng nhẹ theo cả 2 chiều mua-bán.

(Ảnh: NGỌC BÍCH)

Giá vàng giảm liên tiếp, người mua lỗ hơn 8 triệu đồng/lượng sau 1 tháng

Tuần này, giá vàng thế giới tiếp tục giảm, đóng cửa ở mức 4.139,80 USD/ounce khi áp lực từ việc lợi suất trái phiếu kho bạc tăng, đồng USD mạnh hơn và kỳ vọng về việc FED tăng lãi suất đã lấn át nhu cầu trú ẩn an toàn. Trong nước, giá vàng miếng SJC giảm 900.000 đồng/lượng so tuần trước và giảm hơn 5 triệu đồng trong tháng 9.

Trang sức bạc được trưng bày tại một cửa tiệm ở Indonesia. (Ảnh: Tân Hoa xã)

Sáng 25/9, giá bạc thế giới tiếp tục quay đầu giảm

Sáng 25/9, giá bạc thế giới tiếp tục quay đầu về ngưỡng dưới 64 USD/ounce và hướng tới mức giảm khoảng 4% trong tuần, trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng giữa lúc thị trường ngày càng đặt nhiều kỳ vọng vào khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát.

Nghệ nhân chế tác bạc tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. (Ảnh: Tân Hoa xã)

Sáng 24/9, giá bạc thế giới giảm mạnh

Sáng 24/9, giá bạc thế giới giảm mạnh về quanh mức 64 USD/ounce, nối dài đà giảm từ phiên trước, khi đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng vọt. Trong nước, nhiều doanh nghiệp cũng đồng loạt điều chỉnh giá bạc giảm theo cả 2 chiều mua-bán, cùng chiều với thị trường thế giới.

Ảnh minh họa: THU LAN

Sáng 22/9, giá bạc giảm nhẹ

Sáng 22/9, giá bạc thế giới giảm nhẹ giữa lúc giá dầu giảm giúp làm dịu lo ngại về lạm phát và hạ thấp kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tiếp tục tăng lãi suất. Trong nước, nhiều doanh nghiệp cũng đồng loạt điều chỉnh giá bạc giảm theo cả 2 chiều mua-bán, cùng chiều với thị trường thế giới.

(Ảnh: NGỌC BÍCH)

Giá vàng ngày 21/9: Ít biến động phiên đầu tuần, chuyên gia dự báo lạc quan

Giá vàng thế giới hôm nay (21/9) ít biến động, giao dịch ở mức 4.375 USD/ounce. Các chuyên gia bày tỏ lạc quan khi việc FED tăng lãi suất không thể kìm hãm vàng tăng giá cuối tuần trước. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC không đổi, bán ra lần lượt ở mức 147,6 triệu đồng/lượng và 147,1 triệu đồng/lượng.

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng tăng 1,6 triệu đồng/lượng, chuyên gia dự báo tuần tới tiếp tục tăng

Giá vàng thế giới tuần này phục hồi sau 3 tuần giảm liên tiếp, đóng cửa ở mức 4.377 USD/ounce khi việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất đã được phản ánh vào giá, áp lực giá dầu và lợi suất trái phiếu giảm bớt. Trong nước, giá vàng miếng SJC tăng 1,6 triệu đồng, bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.