Tuy nhiên, để nâng cao giá trị xuất khẩu và phát triển bền vững, tỉnh cần tháo gỡ các điểm nghẽn về chính sách tài chính, tín dụng, logistics và phát triển chuỗi giá trị.
Mở rộng thị trường xuất khẩu
Nhiều năm qua, Vĩnh Long luôn xác định nông nghiệp là một trong những trụ cột của nền kinh tế. Trên cơ sở cơ cấu lại ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển xanh và bền vững, tỉnh tập trung xây dựng các vùng nguyên liệu quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến, phát triển thị trường và xuất khẩu.
Đến nay, nhiều vùng sản xuất tập trung đối với lúa chất lượng cao, cây ăn trái đặc sản, dừa hữu cơ và thủy sản đã được hình thành. Các chuỗi liên kết sản xuất-tiêu thụ từng bước được mở rộng; việc áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, sản xuất hữu cơ và truy xuất nguồn gốc được đẩy mạnh, tạo nền tảng nâng cao chất lượng nông sản.
Đặc biệt, đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã được triển khai trên hơn 8.224 ha, vượt kế hoạch đề ra, góp phần đưa nông sản của tỉnh tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Song song với phát triển vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến nông sản tiếp tục được mở rộng. Hiện toàn tỉnh có khoảng 450 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông sản; ngành chế biến chiếm khoảng 20-25% giá trị sản xuất công nghiệp; mức cơ giới hóa trong bảo quản, chế biến đạt từ 70-80%, góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch và gia tăng giá trị sản phẩm.
Những kết quả đó đã tạo động lực quan trọng cho hoạt động xuất khẩu. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản của tỉnh đạt 433,67 triệu USD, tăng hơn 12% so với năm trước. Sáu tháng đầu năm 2026, con số này đạt gần 234 triệu USD, tăng hơn 16% so với cùng kỳ; mục tiêu cả năm phấn đấu đạt khoảng 483 triệu USD.
Các mặt hàng chủ lực như dừa, sầu riêng, bưởi và thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, từng bước mở rộng thị trường tại châu Âu, châu Đại Dương và nhiều thị trường có yêu cầu cao thông qua việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Sau khi hợp nhất ba địa phương Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh, quy mô vùng nguyên liệu của tỉnh tiếp tục được mở rộng. Riêng cây dừa đạt khoảng 120.000 ha, trở thành vùng nguyên liệu lớn nhất cả nước, gắn với sinh kế của hàng chục nghìn hộ dân. Đây được xem là nền tảng quan trọng để phát triển hệ sinh thái chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và nâng cao vị thế ngành dừa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc Sơn, sáu tháng đầu năm 2026, GRDP của tỉnh tăng 6,41%; nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế. Tỉnh đang tích cực huy động các nguồn lực tín dụng, tranh thủ sự hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương nhằm phát triển vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Bên cạnh đó, địa phương đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất-tiêu thụ nông sản, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, ưu đãi tiền thuê đất, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, đồng thời triển khai kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số đến năm 2030. Đây được xem là nền tảng quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trong bối cảnh yêu cầu hội nhập ngày càng cao.
Tháo gỡ điểm nghẽn, nâng cao sức cạnh tranh
Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình phát triển nông nghiệp và xuất khẩu của Vĩnh Long vẫn đang đối mặt không ít khó khăn. Thực tế cho thấy, phần lớn doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực tài chính còn hạn chế, khó tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư công nghệ, chế biến sâu và mở rộng thị trường.
Bên cạnh đó, việc triển khai các chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp theo quy định của Trung ương còn gặp nhiều vướng mắc do thiếu nguồn kinh phí, trong khi chi phí logistics, kho lạnh và bảo quản sau thu hoạch vẫn ở mức cao. Hạ tầng phục vụ xuất khẩu chưa đáp ứng yêu cầu của các chuỗi cung ứng quy mô lớn, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa.
Theo báo cáo của Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sản xuất nông nghiệp của Vĩnh Long vẫn chủ yếu dựa trên các hộ quy mô nhỏ; liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thật sự bền vững.
Tỷ lệ áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến còn hạn chế, trong khi các thị trường nhập khẩu liên tục nâng cao yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và trách nhiệm môi trường. Điều này khiến doanh nghiệp phải đầu tư chi phí lớn để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam Cao Bá Đăng Khoa cho biết: “Đối với ngành dừa, tiềm năng phát triển của Vĩnh Long rất lớn nhưng vẫn tồn tại ba điểm nghẽn chủ yếu gồm: Thiếu nguồn vốn đầu tư dài hạn cho chế biến sâu; thiếu cơ chế tín dụng dựa trên dòng tiền liên kết để hỗ trợ hợp tác xã và nông dân; cùng với đó là chi phí duy trì các chứng nhận hữu cơ quốc tế còn rất cao”.
Từ thực tiễn đó, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách tài chính cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ từng khâu sản xuất sang hỗ trợ phát triển toàn bộ chuỗi giá trị. Trọng tâm là ưu tiên nguồn lực cho phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đổi mới công nghệ, chế biến sâu, logistics, chuyển đổi số, tín dụng xanh và xây dựng thương hiệu nông sản.
Đồng thời, cần tạo cơ chế để dòng vốn tín dụng gắn với hợp đồng liên kết sản xuất, giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, qua đó giúp doanh nghiệp và hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn. Theo Giám đốc Sở Công thương tỉnh Vĩnh Long Trần Quốc Tuấn, khi vốn đầu tư công đóng vai trò dẫn dắt, vốn tín dụng đồng hành cùng chuỗi giá trị và vốn doanh nghiệp được phát huy hiệu quả, người nông dân sẽ là đối tượng hưởng lợi trực tiếp.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp và người sản xuất sẽ tạo nền tảng để trái dừa, hạt gạo, trái cây, thủy sản của Vĩnh Long không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn nâng cao giá trị gia tăng, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và phát triển bền vững.