Giá ngô rẻ, chất lượng cao, miễn thuế: Cơ hội tái cơ cấu nguồn cung cho ngành chăn nuôi

Giá ngô thế giới giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 5 năm đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho ngành chăn nuôi Việt Nam vốn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu. Trong khi chi phí đầu vào có thể hạ nhiệt, giúp giảm áp lực cho các doanh nghiệp, thì sự cạnh tranh giữa các nguồn cung cũng trở nên gay gắt hơn...

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Nguồn cung dồi dào, giá ngô thế giới rơi xuống mức thấp nhất 5 năm

Từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 7/2025, giá ngô thế giới liên tục rơi vào trạng thái suy giảm kéo dài, xen kẽ vài phiên phục hồi yếu ớt. Chỉ trong ba tháng, giá ngô đã giảm từ 194 USD/tấn xuống còn 155 USD/tấn – mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua.

Theo Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), nguyên nhân chính đến từ việc sản lượng bội thu tại hầu hết các quốc gia xuất khẩu chủ lực. Tại Mỹ – nước sản xuất ngô lớn nhất thế giới, 74% diện tích gieo trồng được đánh giá đạt chất lượng tốt đến xuất sắc, tỷ lệ cao nhất trong gần một thập kỷ. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng niên vụ 2025-2026 có thể lên tới 400 triệu tấn.

anh-1-bieu-do-dien-bien-gia-ngo-thoi-gian-qua.png
Biểu đồ diễn biến giá ngô thời gian qua.

Brazil - nhà xuất khẩu lớn thứ hai cũng đang bước vào vụ thu hoạch ngô vụ 2 với sản lượng ước tính 102-106 triệu tấn. AgRural (Brazil) mới đây đã điều chỉnh tăng dự báo tổng sản lượng ngô của nước này trong năm 2025 lên mức kỷ lục 136 triệu tấn, tăng mạnh so với mức 130,6 triệu tấn công bố trước đó. Argentina theo sau với 53-54 triệu tấn, vượt mức trung bình 5 năm gần nhất là 49 triệu tấn.

Tổng hợp các dữ liệu, Hội đồng Ngũ cốc quốc tế (IGC) ước tính sản lượng ngô toàn cầu niên vụ 2025-2026 sẽ đạt 1,27 tỷ tấn, vượt xa mức 1,22 tỷ tấn của mùa trước và tiệm cận mức tiêu thụ toàn cầu.

Ở chiều ngược lại, nhu cầu thế giới đang có xu hướng chững lại. Trung Quốc - quốc gia nhập khẩu ngô lớn nhất thế giới đang đẩy mạnh tự chủ nguồn cung nội địa. USDA vừa nâng dự báo sản lượng ngô của Trung Quốc lên 298 triệu tấn, trong khi lượng nhập khẩu giảm mạnh xuống còn khoảng 8 triệu tấn - thấp hơn nhiều so với các năm trước.

Bên cạnh đó, các yếu tố chính sách thương mại cũng tạo ra những tác động phức tạp trên thị trường. Chính sách áp thuế đối ứng cao của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gây bất ổn cho thương mại toàn cầu, khi chỉ một số ít quốc gia có thể đàm phán thành công để giảm mức thuế, trong khi phần lớn các đối tác khác vẫn phải chịu áp lực từ các biện pháp này. Điều này đã tạo ra sự mất cân bằng trong hoạt động xuất nhập khẩu quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp đến dòng chảy hàng hóa và chuỗi cung ứng toàn cầu. Gần đây nhất, tuyên bố áp thuế lên tới 50% đối với hàng hóa Brazil càng làm gia tăng mức độ căng thẳng thương mại, tạo thêm áp lực cho các thị trường nguyên liệu và hàng hóa có liên quan.

MXV cho rằng, sự mất cân đối cung cầu trên tiếp tục sẽ gây áp lực lên giá ngô trong thời gian tới. Trong ngắn hạn, giá ngô sẽ dao động trong vùng 155 USD/tấn và khó phục hồi mạnh nếu không có yếu tố hỗ trợ như thời tiết bất lợi ở Mỹ hoặc nhu cầu tăng đột biến từ Trung Quốc. Kịch bản tiêu cực, giá ngô có thể lùi về vùng 140 USD/tấn.

Ngược lại, nếu có thông tin tích cực hỗ trợ, như Mỹ đối mặt với thời tiết bất lợi hoặc xuất hiện nhu cầu mua hàng lớn từ Trung Quốc, giá ngô có thể bật tăng lên các mốc 163-172 USD/tấn.

Cơ hội giảm chi phí, tạo ra chu kỳ tăng trưởng mới cho ngành chăn nuôi

Mặc dù, giá ngô thế giới đã giảm sâu nhưng giá chào bán ngô tại cảng (giá CFR) Việt Nam hiện vẫn ở mức khá cao, dao động từ 6.400-6.750 đồng/kg, tương đương 240-250 USD/tấn. Mức giá này cao hơn đáng kể so với giá ngô giao ngay trên thị trường thế giới, hiện chỉ khoảng 155 USD/tấn.

anh-2-gia-ngo-noi-dia-cua-nam-my-va-my-trong-thang-7.png
Giá ngô nội địa của Nam Mỹ và Mỹ trong tháng 7

Nguyên nhân chủ yếu đến từ độ trễ giữa thời điểm ký hợp đồng và lúc hàng cập cảng, khiến giá nhập khẩu chưa kịp điều chỉnh theo thị trường. Ngoài ra, các chi phí cộng thêm như vận chuyển quốc tế, lưu kho, kiểm định, thuế VAT và chi phí logistics nội địa cũng đẩy giá ngô nhập khẩu lên mức cao hơn giá thế giới.

Sự chênh lệch này cho thấy giá cước và chi phí hậu cần vẫn là yếu tố quyết định lớn trong cơ cấu giá ngô nhập về Việt Nam, đồng thời cho thấy phản ứng chậm của thị trường nội địa với các biến động toàn cầu - đặc biệt trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu đang dư thừa và giá ngô quốc tế tiếp tục chịu áp lực giảm.

Hiện nay, ngô nhập từ Argentina, Brazil và Lào đang được hưởng thuế suất 0% theo Nghị định 73/2025/NĐ-CP và các hiệp định thương mại tự do (FTA). Trong khi đó, ngô từ Mỹ trước đây chịu thuế 1–2% và mới được miễn thuế từ ngày 31/3, nên chưa kịp phản ánh đầy đủ trong giá thị trường. Do đó, hiện giá ngô Mỹ vẫn cao hơn ngô Nam Mỹ khoảng 200 đồng/kg.

Dữ liệu từ Cục Hải quan cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đã nhập hơn 4 triệu tấn ngô. Argentina dẫn đầu với gần 2 triệu tấn (gần 50%), tiếp theo là Brazil (1 triệu tấn), còn lại là từ Lào, Thái Lan, Ấn Độ… Ngô Mỹ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ do giá chưa đủ cạnh tranh.

Dù vậy, chất lượng ngô Mỹ vẫn được đánh giá cao hơn với độ nguyên vẹn, hàm lượng protein và độ sạch vượt trội – phù hợp với tiêu chuẩn chế biến và chăn nuôi công nghiệp. Trong khi đó, ngô Nam Mỹ có giá thấp hơn nhưng thường gặp vấn đề về độ ẩm và bảo quản trong quá trình vận chuyển.

Do đó, sắp tới khi Hiệp định thuế quan song phương giữa Việt Nam và Mỹ được thực thi, thì nhiều mặt hàng nông sản Mỹ, bao gồm ngô, được miễn thuế, tạo điều kiện cho hàng Mỹ "chen chân" vào thị trường Việt Nam. Đồng nghĩa với doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm một lựa chọn mới với chất lượng ổn định, hàm lượng dinh dưỡng cao và khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng - điều vốn được các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi đánh giá rất cao.

Trong bối cảnh giá thịt lợn, thịt gà vẫn đang ở mức thấp, việc giá ngô giảm và nguồn cung dồi dào là “phao cứu sinh” quan trọng với các doanh nghiệp chăn nuôi khi mà chi phí thức ăn chiếm tới 65–70% tổng chi phí sản xuất.

Thậm chí, một số “tên tuổi” lớn trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam cũng đều đã chủ động xây dựng kế hoạch nhập khẩu nguyên liệu cho cả năm nay và năm 2026, trong đó ngô Mỹ nằm trong danh mục ưu tiên nhờ lợi thế chất lượng và chính sách thuế 0%.

Với việc ký các hợp đồng dài hạn theo hình thức FOB hoặc CIF, nhiều doanh nghiệp đang “khóa giá” ở mức thấp, giảm thiểu rủi ro biến động thị trường và đảm bảo nguồn cung ổn định cho giai đoạn tiêu thụ cao điểm cuối năm.

Sự kết hợp giữa giá thế giới giảm sâu, nguồn cung dồi dào, cùng chính sách thuế quan thuận lợi đang mở ra cánh cửa tái cơ cấu nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành chăn nuôi Việt Nam. Nếu tận dụng tốt cơ hội này, các doanh nghiệp có thể bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới - hiệu quả hơn, bền vững hơn và cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế.

Có thể bạn quan tâm

(Ảnh: NGỌC BÍCH)

Giá vàng ngày 1/5: Vàng miếng SJC "bốc hơi" gần 11 triệu đồng/lượng tính từ đầu tháng 4

Giá vàng thế giới hôm nay (1/5) giảm sau phiên tăng mạnh hôm qua, giao dịch quanh mốc 4.600 USD/ounce trong bối cảnh môi trường lãi suất cao làm ảnh hưởng đến đà tăng của giá vàng. Trong nước, giá vàng giữ nguyên do thị trường đang trong kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5; giá vàng SJC  bán ra ở mức 166 triệu đồng/lượng.

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng giảm liên tiếp, người mua lỗ gần 6 triệu đồng chỉ sau 1 tuần

Tuần này, giá vàng thế giới giảm sau chuỗi 4 tuần tăng liên tiếp, kết thúc tuần ở mức 4.708 USD/ounce. Các chuyên gia cho rằng, hiện tại diễn biến giá vàng là rất khó đoán khi mọi thứ đều đang bị chi phối bởi tin tức. Trong nước, giá vàng giảm liên tục, kết thúc tuần quanh mức 168,8 triệu đồng/lượng.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 25/4: Trong nước, thế giới đồng loạt bật tăng trở lại

Giá vàng thế giới hôm nay (25/4) tăng nhẹ nhờ lực mua ổn định từ các ngân hàng trung ương và lo ngại lạm phát toàn cầu gia tăng, giao dịch ở mức 4.708,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng, vàng nhẫn SJC đồng loạt tăng 800 nghìn đồng mỗi lượng, niêm yết lần lượt ở mức 168,8 triệu đồng/lượng và 168,3 triệu đồng/lượng.

(Ảnh minh họa)

MXV-Index tiệm cận vùng cao nhất kể từ đầu năm, lúa mì dẫn dắt đà tăng

Lực mua tiếp tục chiếm ưu thế trên thị trường hàng hóa nguyên liệu thế giới trong phiên giao dịch ngày 23/4.Trong đó, lúa mì trở thành tâm điểm khi giá tăng mạnh, dẫn dắt đà tăng của toàn thị trường; trong khi ở chiều ngược lại, giá bạc trên thị trường kim loại lao dốc xuống mức thấp nhất trong hơn một tuần.

Ngành Thuế tập trung đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa công tác quản lý, nâng cao hiệu quả điều hành và phục vụ người nộp thuế.

Luật Quản lý thuế: Nền tảng cho quản lý thuế hiện đại, minh bạch

Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 là nền tảng quan trọng để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại, minh bạch, hiệu quả, phù hợp xu thế chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Việc thực hiện tốt Luật sẽ góp phần tăng cường kỷ cương tài chính, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Ảnh minh họa.

Giá dầu vượt 100 USD/thùng, MXV-Index ghi nhận phiên tăng mạnh nhất trong tháng 4

Thị trường hàng hóa nguyên liệu thế giới ghi nhận diễn biến khởi sắc trong phiên giao dịch hôm qua (22/4) khi lực mua quay trở lại chiếm áp đảo, đặc biệt tại nhóm năng lượng và nguyên liệu công nghiệp. Đóng cửa, chỉ số MXV-Index tăng 1,7% lên mức 2.857 điểm, ghi nhận một trong những phiên tăng mạnh nhất kể từ đầu tháng. 

Ảnh: ĐĂNG ANH

Giá vàng ngày 23/4: Vàng trong nước tiếp đà giảm mạnh theo giá thế giới

Giá vàng thế giới hôm nay (23/4) tiếp tục rơi tự do, giao dịch ở mức 4.703,1 USD/ounce trước sự mạnh lên của đồng USD và diễn biến căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Trong nước, giá vàng miếng, vàng nhẫn SJC đồng loạt giảm 800 nghìn đồng mỗi lượng, niêm yết lần lượt ở mức 169,2 triệu đồng/lượng và 169 triệu đồng/lượng.

Các sản phẩm bạc tại một xưởng chế tác ở thị trấn Nyaungshwe, bang Shan, Myanmar. (Ảnh: Xinhua)

Sáng 23/4, bạc tiếp tục lùi về ngưỡng 77,53 USD/ounce

Sáng 23/4, giá bạc tiếp tục giảm nhẹ so phiên hôm qua, giao dịch quanh ngưỡng 77,53 USD/ounce. Theo các chuyên gia, khi 2 yếu tố chi phối thị trường là vị thế của đồng USD và lợi suất cao còn đứng vững thì xu hướng chủ đạo của giá bạc được đánh giá sẽ dao động từ vùng “đi ngang” đến “giảm nhẹ”.