Bước đột phá quan trọng trong công tác chẩn đoán và điều trị bệnh lao

Phương pháp xét nghiệm sinh học phân tử nhanh giúp phát hiện vi khuẩn lao và tính kháng thuốc, mang lại giá trị chẩn đoán chính xác, rút ngắn đáng kể thời gian trả kết quả so với các xét nghiệm, cho hiệu quả cao gấp 7 lần so với phát hiện thụ động hiện nay.
Tiến sĩ, bác sĩ Đinh Văn Lượng, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương phát biểu tại hội thảo.
Tiến sĩ, bác sĩ Đinh Văn Lượng, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương phát biểu tại hội thảo.

Ngày 5/7, Bệnh viện Phổi Trung ương, Chương trình Chống lao quốc gia phối hợp Công ty Cepheid và Công ty TNHH Thiết bị Minh Tâm tổ chức buổi hội thảo khoa học với chủ đề: “Đừng chậm trễ: Chiến thắng bệnh lao với xét nghiệm sinh học phân tử nhanh” để tăng cường công tác chia sẻ, cập nhật những thông tin khoa học mới nhất liên quan đến các khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong chẩn đoán và điều trị bệnh lao.

Hội thảo có sự tham dự của các đại biểu, tổ chức trong nước và quốc tế cùng hơn 700 nhân viên y tế đang công tác trong ngành lao trên toàn quốc

Chủ động phát hiện lao sớm

Theo Chương trình Chống lao quốc gia, năm 2022, có khoảng 1.200.961 người được sàng lọc lao, trong đó, phát hiện 19.337 (1,6% số sàng lọc) mắc lao, chiếm 18,8% tổng số bệnh nhân lao được thông báo năm 2022 (103.121 người mắc lao mới).

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hưng, Khoa Vi sinh và labo lao chuẩn quốc gia, Chủ nhiệm Bộ môn Vi sinh Y học và Kiểm soát nhiễm khuẩn, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho hay, theo WHO, mỗi năm nước ta có tới 13 nghìn trẻ em mắc bệnh lao mới cần phải điều trị. Trong các thể lao ở trẻ em, 80% là lao phổi, chủ yếu là lao phổi AFB âm tính.

Trong khi đó, mỗi năm chương trình chỉ phát hiện và quản lý điều trị được từ 10-13% số ca lao trẻ em mắc mới, chủ yếu là lao ngoài phổi, trong đó lao hạch ngoại biên chiếm đa số. Như vậy, đa số trẻ em mắc lao phổi đã bị bỏ sót mà lý do chủ yếu có lẽ do cách tiếp cận chẩn đoán bệnh lao ở trẻ em là chưa phù hợp.

Theo bác sĩ Hưng, các thể bệnh lao ở trẻ em thường có số lượng vi khuẩn ít tại nơi tổn thương, nên kết quả xét nghiệm vi khuẩn thường âm tính. Bởi vậy, việc chẩn đoán bệnh dựa vào kết quả xét nghiệm vi khuẩn sẽ bị hạn chế và các ca bệnh thường bị bỏ sót.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hưng cung cấp thông tin về kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hưng cung cấp thông tin về kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử.

Tiến sĩ, bác sĩ Đinh Văn Lượng, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương cho biết, từ năm 2000 đến năm 2021, 74 triệu người nhiễm lao trên toàn thế giới đã được cứu sống và điều trị khỏi. Phát hiện sớm, đặc biệt phát hiện lao chủ động không những cứu sống người bệnh mà còn ngăn chặn nguồn lây lan cho cộng đồng, giảm gánh nặng bệnh lao, giảm tỷ lệ tử vong.

Vì vậy, việc chẩn đoán và điều trị lao cần được tiến hành nhanh chóng. Kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử là một bước đột phá quan trọng trong công tác chẩn đoán và điều trị bệnh lao. Xét nghiệm Xpert MTB/RIF Ultra thế hệ mới chạy trên hệ thống máy GeneXpert do công ty Cepheid phát triển đã được WHO khuyến cáo sử dụng để chẩn đoán nhanh vi khuẩn lao và xác định tính kháng thuốc Rifampicin (RIF) một cách đơn giản với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Thời gian cho kết quả xét nghiệm nhanh, trong vòng 80 phút.

“Đây là kỹ thuật đơn giản, dễ tiếp cận, có độ nhạy, độ đặc hiệu cao trong việc phát hiện vi khuẩn lao và tính kháng thuốc, mang lại giá trị chẩn đoán chính xác, và đặc biệt là rút ngắn đáng kể thời gian trả kết quả so với các xét nghiệm truyền thống trước đây như xét nghiệm soi kính trực tiếp hoặc nuôi cấy vi khuẩn”, bác sĩ Lượng cho hay.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các xét nghiệm chẩn đoán, vaccine và thuốc điều trị lao cũng ngày một được nghiên cứu và phát triển nhiều hơn. Theo báo cáo của WHO, chỉ trong tháng 9/2022, đã có 26 thuốc điều trị lao và 16 vaccine lao được đưa vào thử nghiệm pha 1, 2 và 3. Có ít nhất 22 thử nghiệm lâm sàng đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của thuốc điều trị lao cũng như phác đồ điều trị lao trên toàn cầu. Điều đó cho thấy một nỗ lực chung của toàn thế giới trong việc chung tay, đoàn kết chấm dứt bệnh lao.

Tiến sĩ, bác sĩ Đinh Văn Lượng

Tăng cường sàng lọc, quyết tâm thanh toán bệnh lao vào năm 2035

Tại Việt Nam, kỹ thuật xét nghiệm Xpert MTB/RIF đã được thực hiện thông qua hệ thống máy Genexpert từ năm 2012 và lần lượt được mở rộng áp dụng cho toàn bộ người nghi lao có hình ảnh X-quang bất thường trên toàn quốc.

“Phương pháp này đã và đang phát huy hiệu quả cao, phát hiện nhanh bệnh nhân lao, lao đa kháng và siêu kháng thuốc theo chiến lược “2X” (X-quang - X-pert), phát hiện chủ động cho hiệu quả cao gấp 7 lần so với phát hiện thụ động hiện nay”, bác sĩ Hưng cho hay.

Đến nay, Chương trình Chống lao quốc gia đã đưa vào sử dụng hơn 320 hệ thống máy GeneXpert tại 180 cơ sở y tế trên 63 tỉnh, thành phố để mở rộng mạng lưới tiếp cận, chẩn đoán những bệnh nhân lao trong cộng đồng.

Xét nghiệm Xpert MTB/RIF Ultra đã và đang tạo ra một cuộc cách mạng hóa trong việc quản lý bệnh lao, cũng như giúp cải thiện chiến lược chống lao một cách hiệu quả ở hơn 130 quốc gia trên toàn thế giới.

Bệnh viện Phổi Trung ương và Chương trình Chống lao quốc gia đã nhanh chóng đưa xét nghiệm Xpert MTB/RIF Ultra vào áp dụng rộng rãi và hiệu quả tại Việt Nam, góp phần vào công cuộc thanh toán bệnh lao vào năm 2035.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.