Hạnh phúc của nhân dân chưa bao giờ là một khái niệm trừu tượng. Trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đường lối xuyên suốt của Đảng và trong những quyết sách phát triển đất nước hôm nay, mục tiêu cuối cùng vẫn là làm cho cuộc sống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn. Bởi vậy, tăng trưởng hay những con số phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành chất lượng sống, thành cơ hội phát triển và những thành quả mà mỗi người dân có thể thực sự thụ hưởng.
Ngay từ những ngày đầu của Nhà nước cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt giá trị của độc lập trong mối quan hệ trực tiếp với cuộc sống của nhân dân. Người từng nhấn mạnh rằng nếu đất nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc thì độc lập ấy chẳng có ý nghĩa gì.
Độc lập không phải là đích đến tự thân nếu người dân vẫn đói nghèo, thất học, chưa được sống trong tự do và hạnh phúc. Tư tưởng ấy trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước: Mọi chủ trương, đường lối cuối cùng đều phải hướng tới con người, trước hết là đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Trong từng giai đoạn lịch sử, yêu cầu ấy được biểu hiện bằng những nhiệm vụ khác nhau. Khi đất nước còn khó khăn, điều cấp thiết là chống đói, chống dốt, bảo đảm những nhu cầu sống căn bản, tạo sinh kế và đưa người dân thoát khỏi nghèo đói.
Khi công cuộc đổi mới được khởi xướng, giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập trở thành điều kiện tiên quyết để cải thiện đời sống cho người dân. Nhưng khi đất nước bước lên những nấc phát triển mới, nội hàm của cuộc sống tốt đẹp cũng ngày càng rộng hơn.
Đó không chỉ là việc bảo đảm người dân đủ ăn, đủ mặc mà còn là một công việc ổn định, một nơi ở an toàn, một môi trường sống trong lành, trẻ em được tiếp cận nền giáo dục tốt, được chăm sóc y tế toàn diện, khi về già có chỗ dựa an sinh…
Đồng thời, đó còn là một môi trường công bằng, an toàn, nhân văn, nơi mỗi người có cơ hội để phát triển và cống hiến. Những nội hàm ấy không phải là sự thay đổi mục tiêu, mà là sự phát triển ngày càng đầy đủ hơn của chính mục tiêu vì con người.
Trong quá trình chuẩn bị các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu này đã được đặt ra rất rõ. Phát biểu kết luận buổi làm việc với Tiểu ban Kinh tế-Xã hội Đại hội XIV của Đảng lúc đó, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, thống nhất quan điểm phát triển nhanh nhưng phải bền vững, tăng trưởng cao nhưng phải bảo đảm ổn định vĩ mô, hài hòa giữa phát triển kinh tế với văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh…
Phải đặt con người ở vị trí trung tâm, là chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững. Mọi chủ trương, chính sách đều phải xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc và ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu.
Tinh thần ấy tiếp tục được làm rõ trong giai đoạn phát triển mới. Trong bài phát biểu ngắn gọn khi nhậm chức Chủ tịch nước ngày 7/4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhắc tới các cụm từ: Phục vụ nhân dân; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; không thể để nhân dân mất cơ hội phát triển; nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân; để nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển.
Đồng chí khẳng định: “Trong thực hiện nhiệm vụ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trọng tâm hàng đầu là quán triệt sâu sắc, thực hành triệt để quan điểm ‘Dân là gốc’, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, huy động sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển”.
Tinh thần phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa, con người tiếp tục được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại cuộc làm việc về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, hài hòa, phát triển vào ngày 3/6/2026.
Đồng chí Tô Lâm yêu cầu không để xã hội “giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức và các giá trị nhân văn”; đồng thời khẳng định: “Phát triển nhanh, phải đi đôi với giữ vững ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, không đánh đổi trật tự kỷ cương, công bằng xã hội, môi trường và các giá trị văn hóa để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”.
Đó là một cách nhìn toàn diện về sự phát triển khi tăng trưởng kinh tế chỉ là phương tiện, còn mục tiêu cuối cùng phải là chất lượng cuộc sống và sự thụ hưởng thực sự của con người.
Từ góc nhìn này, hai chữ “thụ hưởng” và khái niệm “hạnh phúc của nhân dân” không còn là những khẩu hiệu định hướng chung chung, mà trở thành thước đo thực tế cho mọi chính sách.
Sự phát triển không thể dừng lại ở những chỉ số vĩ mô như GDP hay thu nhập bình quân, mà phải được chuyển hóa thành phúc lợi cụ thể về giáo dục, y tế, nhà ở, môi trường và an sinh xã hội.
Quan trọng hơn, thành quả ấy phải mang tính công bằng, bảo đảm số đông người dân đặc biệt là người lao động và các nhóm yếu thế có khả năng tiếp cận thực sự. Một nền kinh tế phát triển bền vững và nhân văn phải luôn lấy con người làm trung tâm, dùng mức độ cải thiện cuộc sống thực tế của nhân dân làm tiêu chuẩn tối thượng để thẩm định chất lượng của từng quyết sách.
Chính vì thế, mỗi mục tiêu tăng trưởng, mỗi dự án đầu tư, mỗi chính sách an sinh cuối cùng đều phải trả lời được câu hỏi: Sự phát triển ấy đã làm gì để cuộc sống của người dân tốt hơn?
Tinh thần ấy không chỉ là những chỉ đạo suông mà đã từng bước được hiện thực hóa trong thực tiễn tại các ngành, các cấp, các địa phương để người dân được trực tiếp thụ hưởng những thành quả là những con số cụ thể, kết quả cụ thể. Và đó cũng là lúc cần nhìn rõ hơn một vấn đề: Phát triển không chỉ để tăng trưởng.
Là đầu tàu kinh tế của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh luôn được nhắc đến với những chỉ số về tăng trưởng, quy mô kinh tế hay năng lực thu hút đầu tư.
Tuy nhiên, cùng với đó, Thành phố còn được biết tới là thành phố nghĩa tình, nơi khởi nguồn của nhiều chính sách an sinh xã hội thiết thực, hiệu quả, có sức lan tỏa cả nước.
Thực hiện phương châm “sự hài lòng của người dân là thước đo hiệu quả”, mỗi chủ trương, chính sách của thành phố đều phải xuất phát từ nhu cầu thiết thực của người dân, được bảo đảm nguồn lực, tổ chức thực hiện nghiêm túc và đánh giá bằng kết quả cụ thể.
Thời gian gần đây, với sự chỉ đạo quyết liệt của người đứng đầu, mục tiêu lấy người dân là trung tâm của mọi quyết sách và người dân được quyền hưởng thụ mọi thành quả của sự phát triển đã được minh chứng bằng việc ra đời của nhiều chính sách cụ thể, với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, tiêu biểu như: Chính sách khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân, cập nhật hồ sơ sức khỏe điện tử; chính sách miễn 100% giá vé trên 134 tuyến xe buýt; chính sách miễn phí cho mượn sách giáo khoa cho học sinh đầu cấp; chính sách an sinh xã hội về việc làm, nhà ở, học tập; bảo hiểm xã hội và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, hướng tới nâng cao chất lượng sống cộng đồng.
Riêng với chính sách khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân, Thành phố đặt mục tiêu năm 2026, bảo đảm 100% người dân được khám tầm soát, sàng lọc bệnh ít nhất một lần trong năm, chuyển từ "chữa bệnh" sang "phòng bệnh" và xây dựng cơ sở dữ liệu y tế toàn diện.
Hiện nay, các phường, xã, đặc khu trên địa bàn Thành phố đang tích cực triển khai. Tại phường An Phú Đông, địa phương đã kết hợp với bệnh viện Hồng Đức II, phòng khám Medic hoàn mỹ và phòng khám đa khoa Sài Gòn Medik để khám sức khỏe miễn phí cho bà con.
Bà Nguyễn Thị Bé (phường An Phú Đông) cho rằng đây là chính sách mà người dân thấy rất cần thiết, vì thực tế có nhiều người hàng chục năm nay không đi khám sức khỏe bao giờ nên không tầm soát được bệnh tật, lúc xảy ra thì bệnh đã nặng, khó khăn trong điều trị lẫn chi phí tốn kém. Vừa đi khám theo chương trình về, bà Bé hài lòng và phấn khởi cho biết, mình đã được làm xét nghiệm máu tổng quát, được khám ngoại, khám nội, tai mũi họng, mắt… rất cẩn thận.
Một đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình không chỉ là khẩu hiệu mà là mục tiêu xuyên suốt, là thước đo thực chất của mọi quyết sách phát triển. Đây là kim chỉ nam trong mọi hành động của chính quyền thành phố. Sự thịnh vượng của Thành phố Hồ Chí Minh sẽ được đo lường bằng chính chất lượng sống và hạnh phúc của người dân.
Đồng chí Nguyễn Văn Được, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Từ thực tiễn phát triển tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân được thụ hưởng thành quả của sự phát triển.
Thành phố đã từng trải qua những giai đoạn tăng trưởng nóng và từ đó nhận ra rằng, phát triển bền vững phải đi đôi với tiến bộ xã hội, chăm lo an sinh, bảo vệ môi trường sống. Một đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình không chỉ là khẩu hiệu mà là mục tiêu xuyên suốt, là thước đo thực chất của mọi quyết sách phát triển. Đây là kim chỉ nam trong mọi hành động của chính quyền thành phố. Sự thịnh vượng của Thành phố Hồ Chí Minh sẽ được đo lường bằng chính chất lượng sống và hạnh phúc của người dân.
Đó cũng là yêu cầu mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh khi nói về phát triển trong giai đoạn mới. Mục tiêu không chỉ là tăng trưởng nhanh, mà phải phát triển bền vững, bảo đảm công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; không đánh đổi các giá trị văn hóa, môi trường và công bằng xã hội để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Suy cho cùng, giá trị của một quyết sách phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô đầu tư, mà bằng những đổi thay trong cuộc sống của người dân. Khi thành quả phát triển được chia sẻ công bằng và đến được với số đông, tăng trưởng mới thực sự trở thành động lực của hạnh phúc. Nhưng để những thành quả ấy bền vững, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn phải trở thành chủ thể tham gia vào quá trình phát triển.
Trong những chuyến khảo sát thực tế tại Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, điều khiến chúng tôi ấn tượng đó là người dân chỉ quan tâm tới việc rất gần gũi hằng ngày như: Người dân được quan tâm hơn, hồ sơ được giải quyết nhanh hơn, không còn phải đi lại nhiều lần, thủ tục minh bạch hơn, thái độ phục vụ của cán bộ thân thiện, nhiệt tình hơn…
Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại chính là nơi phản ánh rõ nhất chất lượng của bộ máy phục vụ. Do đó, để các quyết sách đi vào cuộc sống thiết thực và có sức sống lâu bền, đòi hỏi phải có dấu ấn của người dân trong quá trình hình thành và thực thi chính sách.
Trên thực tế, những năm gần đây, yêu cầu lấy người dân làm trung tâm không chỉ được thể hiện ở mục tiêu của các chủ trương, chính sách mà còn ở cách thức xây dựng và tổ chức thực hiện.
Việc lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân đối với nhiều dự thảo luật, nghị quyết quan trọng, trong đó có dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, cho thấy quá trình hoạch định chính sách ngày càng coi trọng tiếng nói từ thực tiễn và cũng cho thấy vai trò ngày càng chủ động của nhân dân trong quá trình hoạch định những quyết sách lớn của đất nước.
Chỉ trong hơn một tháng, đã có 280.226.909 lượt ý kiến của các cơ quan, tổ chức và các tầng lớp nhân dân được gửi tới cơ quan có thẩm quyền. Đây thực sự trở thành một đợt sinh hoạt chính trị-pháp lý sâu rộng trong toàn xã hội.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô của cuộc lấy ý kiến, mà ở cách những ý kiến ấy được tiếp thu.
Báo cáo giải trình của Ủy ban dự thảo cho biết, mọi ý kiến, dù là đa số hay thiểu số, đều được nghiên cứu, xem xét đầy đủ, khách quan và kỹ lưỡng. Trên cơ sở đó, nhiều nội dung của dự thảo đã được chỉnh lý; đặc biệt, từ đề xuất sửa đổi, bổ sung 8 điều, khoản của Hiến pháp, Quốc hội đã quyết định chỉ sửa đổi 5 điều, khoản, đồng thời giữ nguyên 3 nội dung sau khi tiếp thu nhiều ý kiến xác đáng của nhân dân, các chuyên gia và đại biểu Quốc hội.
Đó không chỉ là sự điều chỉnh về kỹ thuật lập pháp, quan trọng hơn, nó phản ánh một cách tiếp cận mới trong xây dựng thể chế. Lắng nghe để hoàn thiện, đối thoại để tạo đồng thuận chính là tiền đề để các quyết sách khi ban hành gần dân hơn, sát thực tiễn hơn và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước. Tiếng nói của nhân dân vì thế không đứng ngoài quá trình hoạch định chính sách, mà trở thành một phần của quá trình hoàn thiện chính sách.
Tinh thần ấy tiếp tục được thể chế hóa trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở cùng các quy định về giám sát, phản biện xã hội đã mở rộng không gian để nhân dân tham gia bàn bạc, góp ý và giám sát những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của mình. Dân chủ không chỉ được thể hiện ở quyền được biết, mà còn ở quyền được tham gia, được lắng nghe và được phản hồi.
Thực tiễn cho thấy, ở đâu chính quyền thực sự coi trọng đối thoại và tiếp thu ý kiến của nhân dân, ở đó việc triển khai các chủ trương thường nhận được sự đồng thuận cao hơn, hiệu quả hơn.
Khi người dân được tham gia ngay từ quá trình xây dựng chính sách, sự đồng thuận không còn được tạo dựng sau khi chính sách ban hành, mà được hình thành ngay từ khi chính sách được thai nghén.
Đó cũng là bước phát triển trong tư duy lãnh đạo của Đảng: Từ việc xác định nhân dân là trung tâm, đến việc khẳng định nhân dân vừa là chủ thể, vừa là động lực của sự phát triển. Người dân không chỉ là người hưởng thụ chính sách mà cao hơn thế, đó là quyền được chủ động tham gia kiến tạo chính những chính sách liên quan tới dân sinh và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, quốc gia. Khi người dân được trao cơ hội để đồng hành cùng chính quyền, mỗi quyết sách sẽ gần dân hơn, sát thực tiễn hơn và có sức sống bền vững hơn.
Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương; Nhà nước cụ thể hóa bằng cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện; còn giá trị của những chủ trương, chính sách ấy cuối cùng được kiểm chứng trong chính cuộc sống của nhân dân.
Suy cho cùng, khi mỗi quyết sách đều bắt đầu từ cuộc sống, hướng tới cuộc sống và được kiểm chứng bằng chính cuộc sống, thì "hạnh phúc của nhân dân" sẽ không còn là một khẩu hiệu hay mục tiêu mang tính định hướng, mà trở thành thước đo cao nhất cho hiệu quả lãnh đạo, quản trị và phát triển của đất nước.