Trong bối cảnh chuyển đổi số và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo Nghị định số 41/2026/NĐ-CP của Chính phủ, địa phương đang tích cực triển khai công tác cấp giấy xác nhận đăng ký nuôi trồng thủy sản trong toàn tỉnh.
Nghề nuôi cá lồng bè trên các dòng sông lớn tại tỉnh Vĩnh Long từ lâu đã trở thành một trong những thế mạnh kinh tế thủy sản quan trọng của địa phương. Tuy nhiên, trước áp lực chi phí đầu vào tăng cao, biến động thị trường và những đòi hỏi khắt khe về quản lý mã số vùng nuôi, ngành chức năng cùng chính quyền các cấp tại Vĩnh Long đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, hướng tới mục tiêu phát triển an toàn, bền vững.
Sức ép chi phí và bài toán hiệu quả kinh tế
Những ngày đầu tháng 9, dọc theo các nhánh sông Tiền, sông Cổ Chiên chảy qua địa bàn tỉnh Vĩnh Long, các dải làng bè vẫn nhộn nhịp sản xuất. Tuy vậy, đằng sau bức tranh lao động hăng hái là sự trăn trở của không ít hộ nuôi trước bài toán chi phí đầu vào và giá cả đầu ra. Tại xã cù lao An Bình, một trong những trung tâm nuôi cá lồng bè của tỉnh, ông Nguyễn Văn Hiếu, một chủ bè nuôi quy mô lớn tại địa phương, chia sẻ thực trạng mà người nuôi đang đối mặt.
Hiện cơ sở của ông đang quản lý 24 bè và vèo nuôi, chủ yếu là cá trắm cỏ, cá chép và cá lăng, cho tổng sản lượng vài trăm tấn cá mỗi năm. Dù sản lượng ổn định, nhưng hiệu quả kinh tế lại bị thu hẹp đáng kể.
Ông Nguyễn Văn Hiếu cho biết: “Từ đầu năm đến nay, giá thức ăn chăn nuôi đã tăng khoảng 600 đồng/kg và dự kiến còn tăng tiếp trong thời gian tới. Hiện nay, để nuôi được 1 kg cá chép thương phẩm, riêng tiền thức ăn đã tốn khoảng 35.000 đồng, cộng với chi phí con giống khoảng 4.000 đồng, giá thành sản xuất đã lên tới khoảng từ 38.000-39.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá cá chép bán ra trên thị trường chỉ dao động từ 41.500 đến 47.000 đồng/kg. Mức giá này khiến người nuôi chỉ từ hòa vốn đến chịu lỗ, biên độ lợi nhuận giảm rất sâu”.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã An Bình Hồ Thế Nhu cho biết, địa bàn xã hiện có 1.826 lồng bè của 113 hộ nuôi (gồm 2 hợp tác xã và 35 bè trọng điểm). Bên cạnh đó là 82,7 ha nuôi cá tra xuất khẩu. Thực hiện phân cấp mới, Ủy ban nhân dân xã đã triển khai xác nhận đăng ký chăn nuôi thủy sản cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn. Việc cấp phép này là điều kiện bắt buộc giúp sản phẩm thủy sản lồng bè có đủ tính pháp lý để đưa vào hệ thống siêu thị, phục vụ xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, địa phương gặp những vướng mắc nhất định. Đồng chí Hồ Thế Nhu chia sẻ: “Khó khăn hiện nay là nguồn giống cá (nhất là cá rô phi xuất khẩu) trên địa bàn có dấu hiệu thoái hóa, chưa đáp ứng chuẩn chất lượng cao. Hợp tác xã đang đề xuất thuê ao mặt nước để chủ động ươm dưỡng con giống. Bên cạnh đó, việc thực hiện các định mức hỗ trợ mã số vùng nuôi và hạ tầng kỹ thuật theo quy định mới vẫn cần hướng dẫn chi tiết từ tỉnh”.
Nhằm nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro cho người nuôi cá lồng bè, lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã An Bình đề xuất tỉnh sớm đầu tư hệ thống quan trắc và cảnh báo môi trường tự động tại các vùng nuôi tập trung.
Hệ thống này sẽ chủ động đo đạc độ pH, nhiệt độ, cảnh báo sớm nguồn nước ô nhiễm hoặc mầm bệnh (vi khuẩn, ký sinh trùng). Dữ liệu cảnh báo truyền trực tiếp đến các hợp tác xã và hộ nuôi sẽ giúp người dân kịp thời xử lý như điều chỉnh lượng thức ăn, ngừng lấy nước hoặc chủ động biện pháp phòng dịch, giảm tối đa thiệt hại kinh tế.
Triển khai đồng bộ nhiều giải pháp
Đánh giá toàn diện về công tác quản lý thủy sản, báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cho thấy, tính đến tháng 8/2026, toàn tỉnh đã cấp Giấy xác nhận cho 6.262 cơ sở nuôi trồng thủy sản, đối với nuôi cá tra đạt 100% diện tích (1.123 ha với 167 cơ sở). Tuy nhiên, tỷ lệ cấp phép đối với lồng bè nuôi mới đạt khoảng 40% (117 giấy xác nhận với thể tích 169.661 m³) và tôm nước lợ đạt khoảng 55%.
Trước tình hình nêu trên, đồng chí Châu Văn Hòa, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã đưa ra những ý kiến chỉ đạo sâu sát nhằm định hướng phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá lồng bè nói riêng.
Lãnh đạo tỉnh chỉ đạo các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các xã, phường coi công tác quản lý, đăng ký nuôi thủy sản lồng bè là nhiệm vụ trọng tâm. Tỉnh khẩn trương rà soát 100% các cơ sở nuôi trên địa bàn, lập danh sách cụ thể và xây dựng lộ trình vận động, hướng dẫn người dân hoàn thành việc đăng ký theo quy định tại Nghị định số 41/2026/NĐ-CP, đồng thời bố trí cán bộ chuyên môn trực tiếp hỗ trợ người dân kê khai, giải quyết thủ tục nhanh chóng, công khai trên hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa đồng bộ về diện tích, sản lượng, chủ hộ nuôi để phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc.