Tái tạo gương mặt cho bé gái mắc dị tật hẹp hộp sọ hiếm

Bệnh nhi 16 tháng tuổi mắc dị tật sọ mặt hiếm gặp vừa được các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương phẫu thuật và điều trị thành công nhờ áp dụng kỹ thuật kéo giãn vòm sọ sau bằng dụng cụ kéo giãn.

ThS, BS Đặng Hoàng Thơm – Trưởng khoa Sọ mặt và Tạo hình, Bệnh viện Nhi Trung ương đang thăm khám và đánh giá tình trạng của bệnh nhi sau quá trình điều trị.
ThS, BS Đặng Hoàng Thơm – Trưởng khoa Sọ mặt và Tạo hình, Bệnh viện Nhi Trung ương đang thăm khám và đánh giá tình trạng của bệnh nhi sau quá trình điều trị.

16 tháng tuổi, bé gái H.M (Bắc Ninh) mang một dị tật trên khuôn mặt với dị dạng sọ mặt phức tạp, khớp sọ đóng sớm, đầu bẹt, đỉnh đầu nhô cao nhọn hoắt, não úng thủy, 2 mắt lồi to ra ngoài không thể nhắm kín dù ngủ hay thức, bất thường ống tai. 

Theo ThS, Bs Đặng Hoàng Thơm - Trưởng khoa Sọ mặt và Tạo hình, bé H.M mắc dị tật sọ mặt hiếm gặp. Tất cả các khớp sọ của trẻ đều bị liền sớm, hộp sọ đóng kín không thể mở rộng, làm cho không gian trong hộp sọ không đủ - không phù hợp để có thể đáp ứng với sự phát triển của não bộ, gây tăng áp lực nội sọ.

Sau khi tiến hành khám và hội chẩn đa chuyên khoa, các bác sĩ xác định tình trạng bệnh của trẻ là một trường hợp khó và phức tạp, cần phẫu thuật tạo hình mở rộng thể tích hộp sọ để phù hợp với thể tích não cũng như sự phát triển của não bộ trong tương lai và tái tạo lại hình dạng hộp sọ.

Kế hoạch phẫu thuật tạo hình cho bệnh nhi được xây dựng gồm 2 giai đoạn khác nhau, thích hợp với sự phát triển của não cũng như tạo hình thẩm mỹ khuôn mặt. 

Các bác sĩ đã sử dụng kỹ thuật kéo giãn vòm sọ sau bằng dụng cụ kéo giãn, giúp thể tích hộp sọ của trẻ tăng lên 30% so với ban đầu. Với kỹ thuật này, hộp sọ của trẻ sẽ được mở rộng từ từ 1mm/ngày, chia làm 2 lần vào mỗi buổi sáng và chiều, thông qua kéo giãn bằng thiết bị chuyên biệt. Hàng ngày, trẻ sẽ được kéo giãn, theo dõi và đánh giá tình trạng đến khi đạt được thể tích hộp sọ mong muốn.

Tái tạo gương mặt cho bé gái mắc dị tật hẹp hộp sọ hiếm -0
 Các bác sĩ hội chẩn kỹ lưỡng để xây dựng kế hoạch phẫu thuật tạo hình cho bệnh nhi.

Khoảng 5 ngày sau phẫu thuật, thể tích hộp sọ của trẻ bắt đầu tăng lên. Trẻ giảm hẳn tình trạng buồn nôn, sau 10 ngày thì hết hoàn toàn nôn trớ, mắt trẻ đã có thể nhắm kín, ăn ngon, ngủ sâu giấc, dấu hiệu khò khè hết hẳn.

Theo bác sĩ Đặng Hoàng Thơm, hẹp sọ bẩm sinh (Croniosynostosis) là bệnh lý liền sớm của 1 hoặc nhiều khớp sọ. Trường hợp của bé H.M là liền sớm tất cả các khớp sọ, đầu nhỏ, dẹt, hình tháp dạng Oxycephaly.

Hẹp sọ gây ra liền khớp sọ sớm, làm cho hộp sọ không thể mở rộng, trong khi đó não của trẻ phát triển từng ngày, nhất là trong 1,5 năm đầu đời. Hộp sọ không thể mở rộng gây mất cân đối giữa thể tích của hộp sọ và thể tích của não bộ, dẫn đến tình trạng tăng áp lực nội sọ, làm xương sọ mỏng dần đi, thậm chí tổ chức não do không đủ không gian phát triển áp sát vào bản xương sọ làm thủng xương sọ, tạo ra các dấu ấn ngón tay trên bản xương sọ.

Trước đây với những trường hợp như bé H.M sẽ phải phẫu thuật cắt rời toàn bộ các bản xương sọ đưa ra ngoài rồi ghép lại. Khi đó, bệnh nhi sẽ tăng nguy cơ bị tổn thương màng não, khả năng nuôi dưỡng của bản xương sọ kém, khả năng nhiễm trùng, tiêu xương, di lệch và biến dạng hộp sọ, hồi sức sau mổ phức tạp…

Hiện nay, tại Khoa Sọ mặt và Tạo hình đã áp dụng kỹ thuật kéo giãn vòm sọ sau bằng dụng cụ kéo giãn KLS Martin trong điều trị dị tật hẹp sọ bẩm sinh. Đây là phương pháp can thiệp ít xâm lấn hơn, không lấy bản xương sọ ra ngoài, giữ nguyên được hình dạng của vòm sọ.

Bản xương sọ không bị tách rời khỏi hộp sọ, giúp bản xương sọ được nuôi dưỡng tốt, thời gian mổ ngắn hơn, hạn chế được nguy cơ chảy máu, chăm sóc hồi sức sau mổ cũng nhanh hơn.

Đặc biệt là tạo sự thích nghi một cách từ từ, liên tục và tự nhiên giữa hộp sọ cần tạo hình và tổ chức não bộ đến khi có được thể tích hộp sọ mong muốn phù hợp theo kế hoach điều trị, chứ không bị đột ngột tạo khoảng không gian rộng ngay như các phương pháp phẫu thuật cũ.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.