Kỷ niệm cháu bé thứ 200 được sinh ra thành công nhờ IVF tại Bệnh viện Bạch Mai

NDĐT – Sáng 17-5, Bệnh viện Bạch Mai đã tổ chức hội nghị Sản phụ khoa và hỗ trợ sinh sản nhân dịp kỷ niệm ba năm thành lập Đơn vị Hỗ trợ sinh sản, Khoa Phụ sản và ghi dấu mốc 200 gia đình hiếm muộn có em bé từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại đơn vị.

Các gia đình hiếm muộn hạnh phúc khi có con thành công nhờ IVF tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Bạch Mai.
Các gia đình hiếm muộn hạnh phúc khi có con thành công nhờ IVF tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Bạch Mai.

Nhân đôi hạnh phúc của 200 gia đình hiếm muộn

Trong ba năm thành lập và hoạt động, Đơn vị hỗ trợ sinh sản (Bệnh viện Bạch Mai) đã giúp được 200 gia đình hiếm muộn có em bé từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. PGS, TS Phạm Bá Nha, Trưởng khoa Phụ sản, Phụ trách Đơn vị Hỗ trợ sinh sản cho biết, có rất nhiều trường hợp đã làm IVF thất bại tới 6, 7 lần, thậm chí thất bại ở cả các nước tiên tiến như Mỹ, cũng đã tìm thấy phép màu khi đến với đơn vị này.

Tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản, có nhiều ca rất đặc biệt khiến các y, bác sĩ tại đây rất hãnh diện và tự hào đã nhân đôi niềm hạnh phúc cho họ sau nhiều năm hiếm muộn. Chị Yến ở tuổi 46 vô cùng mãn nguyện khi nhờ IVF đã sinh em bé trong lần đầu tiên chuyển phôi đông lạnh. Chị Nguyễn Bích Thủy đến với Đơn vị Hỗ trợ sinh sản sau 8 lần IVF thất bại từ khắp mọi nơi vừa hạ sinh con trai nặng 2800 gr…

Ông Charles (người Anh, vợ người Trung Quốc) đã thành công từ lần chuyển phôi tươi đầu tiên, sinh một bé gái. Sau đó, gia đình đã gia hạn đông phôi sau sinh và hiện nay đôi vợ chồng này đang làm việc tại Hồng Kông.

Chị Nguyễn Bích Thủy đến với Đơn vị Hỗ trợ sinh sản sau 8 lần IVF thất bại từ khắp mọi nơi vừa hạ sinh con trai nặng 2800 gr.

Một vài trường hợp khác cũng rất đặc biệt như ca có tinh trùng dị dạng nặng sau xạ trị, đã làm IVF ở Thái lan, Malaysia không thành công. Một ca khác, do chồng không có tinh trùng và đã điều trị tại Mỹ tới tám năm vẫn thất bại, nhưng lại may mắn sau hai lần được các bác sĩ tại Đơn vị can thiệp, vợ chồng anh chị đã có một cặp sinh đôi trai, gái vô cùng kháu khỉnh.

“Còn rất nhiều các trường hợp khó khăn khác, mỗi người, mỗi hoàn cảnh khi đến với chúng tôi đã toại nguyện. Niềm hạnh phúc, sự vui mừng của các cặp vợ chồng hiếm muộn đã là động lực giúp cho các thầy thuốc của Đơn vị chúng tôi làm việc ngày càng tốt hơn” – Bác sĩ Phạm Bá Nha bày tỏ.

Sau khi thành công, nhiều sản phụ vẫn còn lưu phôi trong bệnh viện với quyết tâm sẽ sinh thêm những đứa con nữa sau thời gian chờ đợi đằng đẵng để có được những thiên thần bé bỏng.

Gần 60% tỷ lệ có thai sinh hóa thành công nhờ IVF

Sau khi thành lập vào ngày 31-12-2013, đến tháng 3-2014, Đơn vị Hỗ trợ sinh sản (Bệnh viện Bạch Mai) bắt đầu thực hiện ca thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên và cũng trong tháng đầu tiên triển khai kỹ thuật, đã có một ca IVF thành công đầu tiên.

Ngày 16-12 cùng năm, Đơn vị đã đón em bé đầu tiên ra đời từ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Đó là một bé trai nặng 3200 gr, con của một bà mẹ đã đã 44 tuổi và đã làm IVF nhiều lần nhưng không thành công.

Số bệnh nhân đến với Đơn vị ngày càng tăng. Từ năm 2014 đến 2016, số chu kỳ IVF tăng từ 85 lên 276 trường hợp. Số chu kỳ chuyển phôi đông lạnh từ 50 lên 261; tỷ lệ thành công chuyển phôi tươi tăng từ 25,5% lên 34,21%; tỷ lệ thành công chuyển phôi đông lạnh tăng từ 33% lên 41,44%; tỷ lệ thai sinh hoá thành công cộng dồn tăng từ 37,37% lên 57,67%.

TS Phạm Bá Nha chia sẻ, được thành lập sau cho nên IVF Bạch Mai có cơ hội tiếp cận với những kỹ thuật tiên tiến và trang thiết bị hàng đầu. Hiện nay, Đơn vị đã có hệ thống trang thiết bị đồng bộ, hiện đại, hệ thống phòng sạch theo tiêu chuẩn quốc tế, có khả năng triển khai hầu hết các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiên tiến, nuôi cấy phôi phát triển đến phôi blastocyte, hệ thống theo dõi, giám sát phát triển phôi Primovision giúp cho việc lựa chọn phôi chuyển tốt nhất, tối ưu hóa các điều kiện chuyển phôi làm tăng tỷ lệ thành công của kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Trải qua chặng đường ba năm hoạt động, Đơn vị đã thực hiện được hầu hết các kỹ thuật trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản tiên tiến trên thế giới như ICSI; Hỗ trợ thai thoát màng; Nuôi cấy phôi ngày 5; PESA…

Bên cạnh các trang thiết bị hiện đại, đội ngũ chuyên gia của IVF Bạch Mai là các bác sĩ đầu ngành được đào tạo tại các trung tâm hàng đầu trên thế giới, như: Pháp, Đức, Bỉ, CH Séc, Nhật, Úc, Hàn Quốc… và có sự giúp đỡ của Trung tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia và một số chuyên gia quốc tế có kinh nghiệm.

Vấn đề vô sinh đang đặt ra nhiều thách thức với y học Việt Nam và cả thế giới. Hiện nay, tỷ lệ vô sinh hiếm muộn khoảng 7,7% và vẫn tiếp tục tăng lên. Vô sinh thứ phát cũng tăng lên với nhiều lý do: nhịp sống xã hội quá nhanh; ô nhiễm môi trường sống, thực phẩm bẩn; sự căng thẳng, stress trong cuộc sống làm rối loạn cơ thể, rối loạn nhiều chức năng...

Bác sĩ Nha cũng cho biết, nguyên nhân vô sinh do đàn ông chiếm một nửa. Trong khi đó, điều trị vô sinh do nam khó hơn điều trị vô sinh do nữ vì thuốc điều trị khó khăn, can thiệp khó. Đặc biệt đàn ông thường rất tự hào về giới tính, sức khỏe tình dục, do đó họ thường hay đổ lỗi cho phụ nữ, trốn tránh đến các cơ sở y tế hoặc nếu có thì cũng thường ở độ tuổi đã cao.

Vì thế, nhu cầu thụ tinh nhân tạo ngày càng cao.Tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản đang có hàng trăm hồ sơ chờ để làm IVF. Mỗi tháng, Đơn vị làm được khoảng 50-60 chu kỳ kích thích buồng trứng. Tỷ lệ mà Đơn vị làm thành công trong ba năm qua cũng tương đương với tỷ lệ thành công trên thế giới.

Tuy nhiên, theo TS Phạm Bá Nha, vẫn còn nhiều khó khăn với các cặp vợ chồng khi thực hiện IVF. Theo một nghiên cứu gần đây, có tới 17% các cặp vợ chồng bỏ điều trị vì gánh nặng tâm lý và thể chất. Gánh nặng kinh tế cũng rất áp lực đối với nhiều cặp vợ chồng vô sinh khiến nhiều người không theo được tới cùng.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.