Đưa kỹ thuật đo điện thế niêm mạc thực quản vào điều trị trào ngược dạ dày

Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản (GERD) đang ngày một tăng lên tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc chẩn đoán chính xác bệnh lý này vẫn còn một số thách thức đặc biệt là trong các trường hợp triệu chứng không điển hình hoặc không đáp ứng với điều trị.

Đưa kỹ thuật đo điện thế niêm mạc thực quản vào điều trị trào ngược dạ dày

Hiện nay, tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán GERD là kỹ thuật đo pH-trở kháng 24 giờ. Tuy nhiên, việc triển khai kỹ thuật này có một số điểm không thuận lợi như yêu cầu máy móc hiện đại, nhân viên cần phải được đào tạo chuyên sâu, giá thành cao và bệnh nhân phải đeo máy trong vòng 24 giờ. Vì vậy, cần có thêm các công cụ mới giúp hỗ trợ chẩn đoán GERD nhanh hơn. Một trong các công cụ đó là kỹ thuật đo điện thế niêm mạc thực quản.

Kỹ thuât đo điện thế niêm mạc thực quản được dựa trên nguyên lý niêm mạc thay đổi tính dẫn điện khi tính thấm niêm mạc thay đổi. Trên thế giới, một số nghiên cứu đã ghi nhận có sự thay đổi của các liên kết giữa các tế bào niêm mạc thực quản, từ đó làm tăng tính thấm niêm mạc ở những người bị mắc chứng trào ngược dạ dày thực quản.

Vì vậy, các nhà khoa học đã đặt ra giả thuyết là việc đánh giá tính thấm của niêm mạc thông qua điện thế niêm mạc có thể là công cụ hỗ trợ chẩn đoán sớm bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản.

Kỹ thuật đo điện thế niêm mạc thực quản được tiến hành ngay trong quá trình nội soi đường tiêu hóa trên, sau khi bác sĩ nội soi đã đánh giá xong các tổn thương ở thực quản, dạ dày và tá tràng. Một catheter có điện cực ở đầu sẽ được đưa qua dây nội soi và tiếp xúc với bề mặt niêm mạc, từ đó đánh giá khả năng dẫn điện (điện thế niêm mạc) của niêm mạc bệnh nhân. 

Theo GS, TS Đào Văn Long – nguyên Giám đốc Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, nguyên Trưởng khoa tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai, Chủ tịch hội đồng sáng lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo tiêu hóa, gan mật, trên thế giới, kỹ thuật đo điện thế niêm mạc thực quản bắt đầu được ứng dụng và đã có các kết quả bước đầu khả quan trên bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản, nóng rát chức năng, khó tiêu chức năng, viêm loét đại trực tràng chảy máu…

Tại Việt Nam, kỹ thuật đo điện thế niêm mạc thực quản là một kỹ thuật tương đối mới. Viện Nghiên cứu và Đào tạo tiêu hóa gan mật đã bắt đầy triển khai kỹ thuật này từ tháng 5-2020. Nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu trên 39 bệnh nhân nội soi đường tiêu hóa trên, được chia làm hai nhóm là có triệu chứng trào ngược điển hình và không có triệu chứng trào ngược. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy ở những bệnh nhân có tổn thương trào ngược trên nội soi, giá trị điện thế niêm mạc ở cả hai vị trí thực quản trên đường Z 5cm và 15cm cao hơn rất nhiều so với những bệnh nhân không có viêm thực quản trào ngược và người khỏe mạnh. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Matsumura và cộng sự tiến hành trên 120 bệnh nhân ở Bệnh viện Chiba, Nhật Bản. 

Khi phân tầng bệnh nhân dựa vào triệu chứng trào ngược (đánh giá bằng thang điểm GERD-Q) và tổn thương viêm thực quản trên nội soi cũng cho thấy sự khác biệt của điện thế niêm mạc ở cả hai vị trí. Như vậy, tổn thương trào ngược trên nội soi có liên quan đến điện thế niêm mạc ở cả đoạn thực quản trên đường Z 5cm và 15cm.   

Mặc dù nghiên cứu chỉ mới ở bước đầu, tuy nhiên cũng đã ghi nhận được kết quả khả quan. Trong thời gian tới, Viện Nghiên cứu và Đào tạo tiêu hóa, gan mật sẽ tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật đo điện thế niêm mạc thực quản để đưa vào triển khai rộng rãi.

Song song với đó, viện cũng đồng thời tiến hành so sánh, đối chiếu kết quả đo điện thế với kết quả đo pH-trở kháng 24 giờ, pep-test và mô bệnh học để góp phần nâng cao hiệu quả trong việc thăm khám và điều trị bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản tại Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.