Ðóng góp của ngoại giao Việt Nam vào chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975

PHẠM BÌNH MINH

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao

Ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27-1-1973, buộc Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo ra tiền đề cho giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27-1-1973, buộc Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo ra tiền đề cho giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ngoại giao luôn có đóng góp quan trọng. Trong thời đại Hồ Chí Minh, thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 45 năm trước là sự kết hợp nhuần nhuyễn của mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao. Bồi hồi nhớ lại những ngày tháng mùa Xuân lịch sử năm 1975 và hướng tới dịp kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Bác Hồ (19-5-1890 - 19-5-2020), chúng ta càng thêm tự hào về những đóng góp quan trọng của nền ngoại giao Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. So sánh lực lượng quân sự giữa ta và đối phương có sự chênh lệch rất lớn. Việc thế giới phân tuyến thành hai phe và những chuyển động phức tạp trong quan hệ nước lớn, kể cả những mâu thuẫn giữa một số nước xã hội chủ nghĩa anh em đã ảnh hưởng đáng kể đến cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nổi lên như vũ bão và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa anh em, đã góp phần quan trọng giúp ta kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Ngoại giao - một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược

Ðóng góp lớn nhất của ngoại giao là đã trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong đường lối cách mạng. Phải đối mặt với một đối phương mạnh hơn mình nhiều lần, Ðảng và Nhà nước ta đã xác định rõ, cần kết hợp chặt chẽ các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Nghị quyết Hội nghị T.Ư 13 năm 1967 đã khẳng định: "đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động". Tiếp đó, năm 1969 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết xác định rõ: "ngoại giao là một mặt tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược". Quán triệt chủ trương lớn đó, ngoại giao Việt Nam đã có những cống hiến, đóng góp xứng đáng trong việc xây dựng mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, tạo nên thế trận "vừa đánh vừa đàm" chấm dứt chiến tranh bằng Hiệp định Pa-ri năm 1973 và tiến tới chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975.

Trước hết, ngoại giao đã huy động được sự ủng hộ chính trị - ngoại giao và nguồn lực vật chất to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Liên Xô và Trung Quốc. Cùng với ý chí sắt đá của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm thu giang sơn về một mối, sự chi viện, giúp đỡ mọi mặt của Liên Xô và Trung Quốc đã góp phần quan trọng giúp quân và dân ta lập nên những chiến công lẫy lừng trên chiến trường, bẻ gãy ý chí chiến tranh của đối phương. Cùng với đó, việc ta xây dựng quan hệ hữu nghị, đoàn kết chiến đấu và cùng hỗ trợ lẫn nhau với lực lượng cách mạng Lào và Cam-pu-chia đã góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng của mỗi nước. Với tinh thần "giúp Bạn là giúp mình", chúng ta đã phối hợp và giúp Lào ký Hiệp định ngày 21-2-1973 chấm dứt chiến tranh ở Lào, lập Chính phủ liên hiệp, tiếp tục giúp đỡ các lực lượng kháng chiến Cam-pu-chia tiến lên giành thắng lợi cuối cùng năm 1975.

Thứ hai, ngoại giao đã phối hợp với quân sự vừa kiên quyết, vừa khéo léo đấu tranh làm thất bại các ý đồ của đối phương. Từ khi Mặt trận giải phóng dân tộc miền nam Việt Nam được thành lập tháng 12-1960, các hoạt động ngoại giao của hai miền với phương châm "tuy hai mà là một, tuy một mà hai" đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc. Ðặc biệt, ta đã mở ra cục diện "vừa đánh vừa đàm", phát huy tối đa hiệu quả của những thắng lợi ở chiến trường trên bàn đàm phán. Những cuộc đấu trí cam go trên bàn đàm phán giữa các nhà chính trị, ngoại giao Việt Nam với các đối thủ sừng sỏ, lão luyện đến từ nền ngoại giao nhà nghề của siêu cường hàng đầu thế giới đã khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ của ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao đã buộc Mỹ phải dần xuống thang, đi vào đàm phán theo các điều kiện của ta, ký Hiệp định hòa bình Pa-ri tháng 1-1973 và rút quân khỏi Việt Nam trong khi các lực lượng cách mạng vẫn được ở lại miền nam. Qua đó, ta đã thực hiện đúng chủ trương mà Ðảng và Bác Hồ đề ra là "Ðánh cho Mỹ cút" để tiến tới "đánh cho ngụy nhào".

Thứ ba, ngoại giao đã chủ động, tích cực hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Trong bối cảnh có những rạn nứt, bất đồng nhất định trong phe xã hội chủ nghĩa, ta đã chủ động có những đóng góp thiết thực vào việc củng cố đoàn kết và hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tạo nên chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Nhờ các hoạt động ngoại giao rất chủ động, tích cực của ta, Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè, anh em ở châu Á, châu Phi, Mỹ la-tinh, châu Âu đã dành cho nhân dân Việt Nam sự ủng hộ, giúp đỡ với nhiều hình thức đa dạng, thiết thực. Hàng triệu người từ những nhà lãnh đạo, chính khách như Chủ tịch Cu-ba Phi-đen Ca-xtơ-rô, Thủ tướng Thụy Ðiển Ô-lốp Pan-mơ cho đến người dân, kể cả ở chính nước Mỹ, đã xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Sau khi ký Hiệp định Pa-ri năm 1973, ngoại giao đã thực hiện tốt nhiệm vụ mà Bộ Chính trị giao là: "Sử dụng khôn khéo vũ khí đấu tranh ngoại giao, góp phần giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc… làm sáng tỏ chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới". Bên cạnh việc vận động quốc tế đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải thi hành nghiêm túc Hiệp định, ta tích cực vận động Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em tăng cường ủng hộ cả về tinh thần và vật chất cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta.

Thứ tư, công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược của ngoại giao đã hỗ trợ đắc lực cho mặt trận quân sự và chính trị. Ta đã đánh giá, nhận định và phán đoán đúng cục diện tình hình thế giới, lợi ích và chủ trương của đồng minh, bạn bè cũng như đối thủ, từ đó đề ra các chủ trương, bước đi phù hợp trong từng giai đoạn cách mạng, giành thắng lợi từng bước rồi tiến đến giành thắng lợi cuối cùng. Khi ta triển khai cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, cùng với các lực lượng tình báo quân sự, ngoại giao đã đánh giá đúng về những khó khăn nội bộ của chính quyền Sài Gòn và chiều hướng chính sách khu vực của Mỹ, từ đó dự báo chuẩn xác về các bước đi của Mỹ và khả năng Mỹ không thể can thiệp quân sự trở lại. Lịch sử các cuộc chiến tranh đều cho thấy, mỗi dự báo chiến lược, thông tin tình báo chuẩn xác có sức mạnh không kém những sư đoàn. Thực tế đó lại được minh chứng sinh động bằng những đóng góp rất thầm lặng song không kém phần quan trọng của mặt trận ngoại giao.

Ðặc biệt, với tầm nhìn chiến lược của Ðảng và Bác Hồ, ngay từ những ngày khói lửa chiến tranh, chúng ta đã dự liệu các biện pháp nhằm tái thiết đất nước sau khi chiến tranh kết thúc, trong đó có việc xây dựng quan hệ hòa bình, hợp tác với các nước, kể cả Mỹ và những nước đã từng tham chiến tại Việt Nam. Bác Hồ đã từng nêu rõ: Việt Nam sẵn sàng trải thảm đỏ cho Mỹ rút. Với tinh thần ngoại giao hòa hiếu đó, ta đã hết sức tạo điều kiện để Mỹ có lối thoát trong danh dự, qua đó góp phần nối lại nhịp cầu hợp tác giữa nhân dân hai nước khi có điều kiện. Hiệp định hòa bình Pa-ri đã có Ðiều 21 về việc Mỹ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam. Việc ta trao trả tù binh chiến tranh trong quá trình thực hiện Hiệp định, tạo điều kiện cho người Mỹ di tản những công dân và nhân viên quân sự cuối cùng khỏi Sài Gòn trong những ngày cuối cùng trước khi miền nam hoàn toàn được giải phóng thể hiện thiện chí hòa bình, nhân đạo, góp phần khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước sau này.

Trước khi Hiệp định Pa-ri được ký, Bộ Ngoại giao đã lập ra Tổ Kinh tế trong Ban Hậu chiến. Hội nghị Ngoại giao lần thứ 9 (tháng 7-1970) đã nêu chủ trương: Ngoại giao cần nghiên cứu yêu cầu kinh tế của các nước, tranh thủ viện trợ quốc tế, thu thập tiến bộ khoa học - kỹ thuật ở nước ngoài, thúc đẩy quan hệ kinh tế - văn hóa và khoa học - kỹ thuật với các nước. Tiếp đó, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 10 (tháng 1-1971) nhấn mạnh: Rồi đây, sau khi chiến tranh kết thúc, công tác ngoại giao sẽ dần dần nặng về nội dung kinh tế. Hoàn cảnh khách quan của khu vực, quốc tế lúc bấy giờ chưa cho phép ta thực hiện hết các chủ trương đó, song những bước đi nói trên đã khẳng định tầm nhìn xa, nhãn quan chiến lược của ngoại giao Việt Nam.

Như vậy, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sát cánh với các mặt trận quân sự và chính trị, ngoại giao đã có nhiều đóng góp quan trọng, góp phần đưa dân tộc ta đi tới chiến thắng cuối cùng ngày 30-4-1975. Ðây là thắng lợi to lớn, có tầm vóc lịch sử, thu giang sơn về một mối, bắc nam sum họp một nhà như nguyện vọng cháy bỏng của Bác Hồ lúc sinh thời. Như có Bác Hồ trong ngày vui chiến thắng, toàn dân tộc Việt Nam khắc ghi công ơn của Người. Ðối với các cán bộ đối ngoại, tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao và tầm nhìn vượt thời đại của Người sẽ tiếp tục là hành trang quý báu trong mọi chặng đường cách mạng.

Ðúng như Ðại hội Ðảng lần thứ IV năm 1976 đã nhận định: "Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người". Trong thắng lợi chung ấy của toàn dân tộc, những đóng góp rất xứng đáng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam đã được Ðảng và Nhà nước ghi nhận bằng việc hai lần trao tặng Huân chương Sao Vàng, một lần Huân chương Hồ Chí Minh, là những huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.

Những bài học lịch sử còn nguyên giá trị

Chiến tranh đã lùi xa ngót nửa thế kỷ, song nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc, chúng ta càng nhận thức rõ tầm quan trọng của đối ngoại nói chung và ngoại giao nói riêng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng đất nước trước đây cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trên nền tảng của truyền thống đã được hun đúc thành bản sắc qua hàng nghìn năm của dân tộc ta, Ðảng và Nhà nước ta luôn xác định rõ, độc lập, tự chủ về chủ trương, đường lối là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong mọi hoàn cảnh, việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp chặt chẽ các mặt trận đối ngoại - quốc phòng - an ninh là tiền đề để dân tộc ta lấy yếu thắng mạnh, lấy ít kháng nhiều. Cùng với nguyên tắc kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc, chúng ta cũng nhận thức rõ việc ứng xử khéo léo, hài hòa với các nước lớn và xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với các nước láng giềng luôn là một phần không thể thiếu của ngoại giao Việt Nam.

Ngày nay, sự nghiệp đổi mới vào thời điểm đất nước hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng đặt ra sứ mệnh lịch sử mới cho ngoại giao Việt Nam. Hơn bao giờ hết, ngoại giao Việt Nam cần đi tiên phong trong việc kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và thu hút các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Cùng với quốc phòng - an ninh tạo thành thế chân kiềng vững chắc, ngoại giao đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh, phát triển, nâng cao vị thế đất nước. Dưới lá cờ vẻ vang của Ðảng, vững bước trên con đường mà Bác Hồ đã lựa chọn, nền ngoại giao Việt Nam hiện đại sẽ tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, góp phần đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Có thể bạn quan tâm

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa phát biểu tại kỳ họp. (Ảnh: QUANG PHONG)

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa chủ trì Kỳ họp thứ ba Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương

Chiều 18/9, tại Hà Nội, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương chủ trì Kỳ họp thứ ba Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2025-2030.

Hội thảo giới thiệu Video về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Fidel Castro. (Ảnh: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

Cây cầu tư tưởng bắc qua đại dương

Hội thảo khoa học quốc tế “Tư tưởng lãnh tụ lịch sử Fidel Castro: Từ lý luận đến thực tiễn” diễn ra ngày 18/9 tại Hà Nội, tập trung làm rõ di sản lý luận và thực tiễn của Fidel Castro, những đóng góp của ông đối với cách mạng Cuba và phong trào giải phóng dân tộc, cũng như tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Cuba.

Quang cảnh hội thảo. (Ảnh: TẤN TOÀN)

Phát triển lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Ngày 18/9 tại Đà Nẵng, Cơ quan Thường trực Tạp chí Cộng sản tại miền trung-Tây Nguyên phối hợp Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam: Từ quá trình nhận thức 40 năm đến bước phát triển trong kỷ nguyên mới”.

Đồng chí Phan Xuân Thủy kết luận hội nghị. (Ảnh: Đông Hà)

Hội nghị Báo cáo viên tháng 9/2026

Sáng 18/9, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội nghị báo cáo viên tháng 9/2026, định hướng tuyên truyền, cung cấp thông tin thời sự quan trọng tới đội ngũ báo cáo viên cả nước. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến, kết nối điểm cầu Trung ương tới 1.900 điểm cầu trên cả nước.

Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam Pauline Tamesis trả lời phỏng vấn của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam. (Ảnh: Việt Đức/TTXVN)

Kinh nghiệm, sáng kiến và giải pháp của Việt Nam sẽ đóng góp thiết thực cho sự tiến bộ của khu vực và thế giới

Theo Thông cáo của Bộ Ngoại giao, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81. Nhân dịp này, phóng viên đã có cuộc phỏng vấn với Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam, Pauline Tamesis.

Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Motegi Toshimitsu. (Ảnh: Bộ Ngoại giao Nhật Bản)

Điện mừng

Nhân dịp ông Motegi Toshimitsu tiếp tục được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản, ngày 17/9, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung gửi điện chúc mừng.

Toàn cảnh hội nghị rút kinh nghiệm về công tác đối ngoại. (Ảnh: ĐẮC TRƯỜNG)

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh chủ trì Hội nghị rút kinh nghiệm về công tác đối ngoại của Quốc hội

Sáng 17/9, tại Hà Nội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội chủ trì hội nghị rút kinh nghiệm về công tác đối ngoại của Quốc hội. Đồng chủ trì, có Thượng tướng Lê Tấn Tới, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc dự Lễ khai trương Khu gian hàng Việt Nam. (Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên)

Việt Nam đóng góp mở rộng hợp tác ASEAN-Trung Quốc

Ngày 17/9, đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam dự lễ khai mạc Hội chợ Trung Quốc-ASEAN (CAEXPO) và Hội nghị thượng đỉnh thương mại và đầu tư Trung Quốc-ASEAN (CABIS) lần thứ 23.

[Video] Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phòng, chống tham nhũng phải đo được bằng tài sản được thu hồi, nguồn lực được khơi thông, niềm tin của nhân dân được củng cố

[Video] Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phòng, chống tham nhũng phải đo được bằng tài sản được thu hồi, nguồn lực được khơi thông, niềm tin của nhân dân được củng cố

Chiều 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. (Ảnh: Thủy Nguyên)

Chủ động nhận diện, xử lý vi phạm trong những lĩnh vực mới, trọng yếu, then chốt

Chiều 17/9, tại Hà Nội, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) tổ chức cuộc họp, cho ý kiến về kết quả thực hiện Chương trình công tác của Ban Chỉ đạo năm 2026 và các kết luận của Ban Chỉ đạo.Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì cuộc họp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Hội nghị thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị năm 2026 đối với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội (đợt 3).

[Ảnh] Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Hội nghị thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát đối với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội (đợt 3)

Chiều 17/9, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Đoàn Kiểm tra, giám sát số 218 của Bộ Chính trị, chủ trì Hội nghị thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị năm 2026 đối với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội (đợt 3).