Cô đỡ thôn, bản cần hỗ trợ những gì?

Cô đỡ thôn, bản được xem như cánh tay nối dài của ngành y tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Tuy nhiên, chế độ, chính sách đối với đội ngũ này hơn 30 năm qua vẫn chỉ mang tính động viên, khuyến khích, cho nên rất cần có những chính sách, chế độ đãi ngộ tốt hơn để họ yên tâm, phát huy hết năng lực…
Cô đỡ thôn, bản Thào Thị Dễ (ngoài cùng bên trái) ở bản Tiên Lô, xã Na Son, huyện Điện Biên Đông tư vấn cho phụ nữ mang thai.
Cô đỡ thôn, bản Thào Thị Dễ (ngoài cùng bên trái) ở bản Tiên Lô, xã Na Son, huyện Điện Biên Đông tư vấn cho phụ nữ mang thai.

Theo Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em (Bộ Y tế) Đinh Anh Tuấn, cách đây 30 năm, tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh tại các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa rất cao; nguyên nhân chính là do tập quán, thói quen không đi khám thai, chỉ đẻ tại nhà, không có cán bộ y tế hỗ trợ.

Từ năm 1990, có 3.077 cô đỡ thôn, bản được đào tạo đã góp phần cải thiện đáng kể sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Tuy nhiên, số lượng cô đỡ thôn, bản cứ giảm dần, chỉ còn 1.549 cô đỡ thôn, bản đang hoạt động tại 28 tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, trong đó tập trung nhiều nhất ở các tỉnh miền núi phía bắc và Tây Nguyên.

Nhờ có cô đỡ thôn, bản, kiến thức và thực hành chăm sóc sức khỏe của phụ nữ dân tộc đã tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ phụ nữ biết cách chăm sóc thai nghén, phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm trong thời gian mang thai, sau sinh đã được cải thiện. Số lượng phụ nữ có thai chủ động chăm sóc sức khỏe bản thân, đi khám thai đủ ba lần, sinh đẻ tại trạm y tế, tiêm phòng uốn ván, uống viên sắt… tại các cơ sở y tế tăng lên rõ rệt.

Bên cạnh đó, nhờ được sự chăm sóc, hỗ trợ của cô đỡ thôn, bản, nhiều ca tai biến được phát hiện sớm, kịp thời chuyển tuyến trên, tránh được tử vong mẹ và trẻ sơ sinh... Điểm mạnh của đội ngũ cô đỡ thôn, bản là có cùng ngôn ngữ, phong tục, tập quán và tín ngưỡng, lại ở ngay trong cộng đồng, cho nên dễ dàng tiếp cận các bà mẹ, trẻ em và cung cấp dịch vụ phù hợp, được đồng bào dân tộc thiểu số tin tưởng, chấp nhận.

Tuy nhiên, từ cuối năm 2019, nhiều địa phương không bố trí được kinh phí hỗ trợ đội ngũ này. Đến tháng 1/2023, số cô đỡ thôn, bản được hưởng phụ cấp đã giảm xuống chỉ còn 911 người, trong đó 732 người kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản. Đáng chú ý, có đến 638 cô đỡ chưa được hưởng phụ cấp nhưng vẫn hoạt động, ngày đêm tham gia chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. 60% số cô đỡ thôn, bản không có đủ trang, thiết bị, vật tư y tế (gói đỡ đẻ sạch) để hoạt động. Từ đó, công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh cũng bị ảnh hưởng.

Trước đây, theo quy định của Quyết định 75/2009/QĐ-TTg, cô đỡ thôn, bản được hưởng mức phụ cấp 0,3 hoặc 0,5 mức lương cơ sở tùy theo địa bàn hoạt động ở khu vực II hay khu vực III. Từ khi có Nghị định 34/2019/NĐ-CP của Chính phủ, nhiều địa phương đã dừng chi trả phụ cấp cho y tế thôn, bản nói chung và cô đỡ thôn, bản nói riêng.

Kinh phí để duy trì hoạt động đội ngũ này chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách địa phương, trong khi, hầu hết địa phương có cô đỡ thôn, bản hoạt động đều là những tỉnh miền núi, chưa đủ khả năng tự cân đối ngân sách.

Theo báo cáo của Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em, tính đến ngày 10/3/2023, cả nước có 5.111 thôn, bản có khó khăn về chăm sóc sức khỏe sinh sản, cần bố trí cô đỡ thôn, bản. Đặc biệt, tại các tỉnh như: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Kon Tum, Gia Lai vẫn còn nhiều thôn, bản có tỷ lệ đẻ tại nhà rất cao (trên 60%) và cũng không có cô đỡ thôn, bản.

Theo số liệu điều tra thống kê thực trạng kinh tế-xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2019, còn khoảng 12% phụ nữ mang thai không đến các cơ sở y tế khám thai lần thứ nhất; còn 13,6% phụ nữ dân tộc thiểu số không sinh con tại cơ sở y tế…; một số dân tộc như Mảng, H’Mông, Cống và La Hủ có tỷ lệ sinh con tại nhà không có cán bộ chuyên môn đỡ rất cao, lần lượt là 50,6%, 38,8%, 37% và 36,5%... và tỷ suất chết ở trẻ em dân tộc thiểu số dưới 1 tuổi vẫn chiếm tỷ lệ khá.

Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn đề nghị các ban, ngành, đoàn thể và cộng đồng cùng chung sức với Bộ Y tế trong việc duy trì, phát triển mạng lưới cô đỡ thôn, bản. Theo đó, đề nghị các bộ, ban, ngành tiếp tục quan tâm, hỗ trợ thiết thực cho đội ngũ cô đỡ thôn, bản.

Đặc biệt, cần thực thi một cách hiệu quả, sáng tạo và phù hợp các chính sách với từng địa phương cụ thể. Các cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị cần xác định vai trò, vị trí của cô đỡ thôn, bản; quan tâm chỉ đạo, tổ chức triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là thực hiện đúng và đủ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cô đỡ thôn, bản; tích cực tuyên truyền, vận động các chức sắc, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong bản, làng, cộng đồng... nhằm huy động nguồn lực, tạo điều kiện vật chất và tinh thần động viên, phát huy vai trò của cô đỡ thôn, bản.

Đánh giá cao vai trò của cô đỡ thôn, bản trong việc tuyên truyền, vận động, tư vấn, giúp đỡ phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình mang thai, sinh nở, chăm sóc trẻ em; giúp các thai phụ tiếp cận các dịch vụ y tế, hạn chế tai biến không đáng có, giảm đáng kể tỷ lệ tử vong mẹ, trẻ em, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Y Thông đề nghị Bộ Y tế phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Dân tộc và các bộ, ngành, địa phương kiểm tra, rà soát, nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với đội ngũ cô đỡ thôn, bản.

Ủy ban Dân tộc cũng đề nghị cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị cơ sở các cấp vùng dân tộc thiểu số và miền núi xác định rõ vai trò, vị trí của cô đỡ thôn, bản, thực hiện đúng, đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cô đỡ thôn, bản.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.