Một vết thương bởi mảnh pháo năm 11 tuổi, một tháng ngắn ngủi được gọi người cha hoạt động bí mật bằng tiếng “ba”, rồi cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh chiều 30/8/1964 - những ký ức ấy theo ông Huỳnh Xuân Thanh qua hơn sáu thập niên. Ở tuổi 74, người thương binh vừa nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng vẫn nhớ lời Bác dặn về những “hạt giống đỏ”.
Nếu chỉ nhìn ông Huỳnh Xuân Thanh qua bộ võ phục của một võ sư với danh xưng Hoàng Tử Long, hay hình ảnh một Chi hội trưởng Cựu chiến binh bộc trực ở khu dân cư, ít ai nghĩ người đàn ông có giọng nói sang sảng ấy từng đi qua một tuổi thơ khốc liệt đến thế.
Ở tuổi ngoài 70, trong căn nhà tại Đà Nẵng, ông Huỳnh Xuân Thanh vẫn lưu giữ nhiều tư liệu đã ngả màu theo thời gian: những trang lý lịch, cuốn kỷ yếu về lực lượng tự vệ-đặc công-biệt động, các bài báo cũ, giấy chứng nhận cùng hồ sơ về người cha-liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Xuân Nhị, còn gọi là Huỳnh Chúc.
Trong Kỷ yếu Tự vệ-Đặc công-Biệt động thành phố Đà Nẵng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Huỳnh Xuân Thanh, sinh năm 1952, quê Đại Hiệp, Đại Lộc, Quảng Nam, được ghi là “Biệt động đơn tuyến”. Giấy chứng nhận của Ban Liên lạc truyền thống Đặc công Biệt động thành phố Đà Nẵng cũng ghi tên Huỳnh Xuân Thanh (Long), quê Đại Hiệp, Đại Lộc, Quảng Nam, là cán bộ, chiến sĩ đặc công biệt động.
Tròn 11 tuổi, khi những đứa trẻ khác còn ở trong vòng tay cha mẹ, cậu bé Huỳnh Xuân Thanh đã là một giao liên “đơn tuyến” lăn lộn giữa vùng đạn pháo Điện Bàn, Đại Lộc. Năm 1963, trong một lần đi chuyển công văn qua khu vực Đồng Đình, Điện Tiến, Điện Bàn, ông bị thương do mảnh pháo của địch. Sau đó, ông được đưa về Nhà thương Đà Nẵng điều trị. Đây là vết thương chiến tranh gắn với thời niên thiếu của người sau này được công nhận là thương binh. Nhưng vết thương găm trên thịt da không xót xa bằng vết thương lòng của đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh: không bao giờ được gọi đúng tên cha.
Mẹ dạy cậu bé Thanh từ nhỏ rằng “ba con mất rồi”. Người đàn ông thỉnh thoảng xuất hiện, đưa đón cán bộ hay dặn dò công việc chỉ được gọi bằng hai từ: “Cậu Năm”. Vì thế, dù thường xuyên gặp “cậu Năm”, cậu bé không hề biết người đàn ông ấy chính là cha mình.
Mãi đến tháng 3/1964, tại căn cứ Huyện ủy Đại Lộc, khi các cán bộ cách mạng hỏi cậu bé có biết cha mình ở đâu không, Thanh vẫn trả lời theo lời mẹ từng dặn: cha đã mất.
Mọi người chỉ về phía “cậu Năm” và hỏi đó là ai.
Cậu bé đáp: “Cậu Năm”.
Chỉ đến lúc người cán bộ ấy nghẹn ngào ôm ghì lấy cậu vào lòng, bật khóc: “Cậu Năm chính là ba của con đây!”, cậu bé 12 tuổi mới vỡ òa.
Sau những lần gặp cha mà không biết đó là cha, lần đầu tiên Huỳnh Xuân Thanh được gọi người đàn ông ấy bằng tiếng “ba”. Theo hồi ức của ông, sau khi biết sự thật, hai cha con chỉ có khoảng một tháng được ở gần nhau. Khi ấy, ông Huỳnh Xuân Nhị đang công tác trong Huyện ủy Đại Lộc.
Ít lâu sau, cậu bé 12 tuổi lên đường ra miền bắc học tập.
Năm 1964, khi tròn 12 tuổi, ông Huỳnh Xuân Thanh được tổ chức lựa chọn đưa ra miền bắc học văn hóa.
Đoàn phải đi bộ vượt Trường Sơn trong khoảng ba tháng mới tới Hà Nội. Trước ngày lên đường, theo hồi ức của ông Thanh, cha mẹ căn dặn nếu có cơ hội được gặp Bác Hồ thì chuyển lời thăm của gia đình và quê hương; đồng thời phải cố gắng học tập để sau này trở về phục vụ đất nước.
Huỳnh Xuân Thanh là một trong số hàng vạn học sinh miền nam được đưa ra miền bắc học tập trong những năm đất nước còn chia cắt.
Theo tư liệu về hệ thống trường học sinh miền nam, trong 21 năm từ 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền nam đã ra miền bắc học tập bằng nhiều con đường khác nhau, từ tàu thủy, xe bộ đội, máy bay đến đi bộ vượt Trường Sơn. Trong hệ thống này có 28 trường học sinh miền nam, từ mẫu giáo, cấp I, cấp II, cấp III đến bổ túc văn hóa. Đây là lực lượng được đào tạo, chuẩn bị nguồn cán bộ cho miền nam và cho công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh.
Với Huỳnh Xuân Thanh, chuyến đi năm 12 tuổi đánh dấu sự chuyển tiếp từ những năm tháng làm liên lạc giữa vùng chiến sự Quảng Nam-Đà Nẵng, sang cuộc sống của một học sinh miền nam trên đất bắc.
Không lâu sau khi tới Hà Nội, ông có một cuộc gặp mà hơn sáu thập niên sau vẫn nhớ rõ từng chi tiết.
Trong số những tư liệu ông Thanh lưu giữ có bài viết Một lần gặp Bác, do chính ông viết về buổi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1964.
Khoảng 17 giờ ngày 30/8/1964, sau bữa cơm chiều, các học sinh miền nam nhận được lệnh tập trung. Người phụ trách thông báo các em chuẩn bị, khoảng 20 phút sau lên xe đi gặp Bác Hồ. Cả nhóm trở về phòng thay quần áo, quàng khăn đỏ, chỉnh trang đầu tóc rồi xuống nơi tập trung.
Đoàn hôm ấy có 16 học sinh, đi trên 4 chiếc xe. Các xe đi qua Hoàng Hoa Thám, Hùng Vương rồi dừng lại gần nơi Bác ở.
Từ trên xe, các em nhìn thấy một cụ già mặc bộ quần áo kaki màu xám, đi dép cao su bước ra. Nhận ra Bác Hồ, những học sinh miền nam reo lên rồi ùa tới. Không có sự xa cách của một vĩ nhân. Bác xoa đầu các em và dẫn cả đoàn vào bên trong.
Bác hỏi quê quán từng người, trò chuyện với những học sinh đến từ nhiều vùng miền. Điều khiến ông Thanh nhớ mãi là Bác sử dụng cách phát âm của từng địa phương để hỏi chuyện các em.
Với những học sinh Quảng Nam, Bác hỏi: “Dân chố gộ (cháo gạo) có mặt đây không?”. Nghe tiếng quê hương thân thương giữa Hà Nội, cậu bé Thanh và các bạn trào nước mắt, reo lên: “Có ạ!”.
Bác lại hỏi: “Dân dưa cửa chấm mắm cứa có đây không?”. Theo ông Thanh, đó là cách Bác nói vui theo cách phát âm của người Quảng Ngãi, với ý “dân dưa cải chấm mắm cái”. Bạn Ba Đen đứng dậy đáp: “Dạ có ạ”. Bác giới thiệu đồng chí Phạm Văn Đồng cũng là người quê Quảng Ngãi.
Sau đó, Bác hỏi: “Các cháu đi vượt Trường Sơn có mỏi cái đầu gấu không?”. Ông Thanh nhớ đây là cách nói “đầu gối” của người Khánh Hòa. Cả nhóm đồng thanh: “Dạ có ạ”.
Bác lại nói theo cách phát âm Nam Bộ: “Các cháu ra Hà Nội ăn mích chính ích ích thôi nghen” - tức “ăn mít chín ít ít thôi nghen”. Lúc ấy, ông Thanh chỉ sang bạn Nguyễn Thị Dung và đáp: “Dạ có ạ”. Theo hồi ức của ông, Nguyễn Thị Dung là con của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.
Bác bắt nhịp bài hát Kết đoàn, giới thiệu bác Tôn Đức Thắng, bác Phạm Văn Đồng, bác Võ Nguyên Giáp... rồi đi tới từng em. Đến lượt Thanh, Bác xoa đầu và hôn lên trán hai cái thật lâu. Trong khoảnh khắc xúc động đến nghẹn ngào, cậu bé 12 tuổi nhổm hẳn dậy, ôm chặt lấy tay Bác, áp mặt lên chòm râu bạc phơ của Người.
Cậu bé tranh thủ chuyển lời thăm của cha mẹ từ chiến trường Quảng Nam đỏ lửa tới Bác, kể cho Bác nghe về 90 ngày bộ hành vượt Trường Sơn.
Trong buổi gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các học sinh miền nam phải cố gắng học tập, rèn luyện, bởi các em là những “hạt giống đỏ” mà đồng bào miền nam gửi ra miền bắc: “Các cháu là những hạt giống đỏ mà đồng bào miền nam gửi gắm ra bắc. Phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương”.
“Các cháu là những hạt giống đỏ mà đồng bào miền nam gửi gắm ra bắc. Phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương”.
Hơn sáu thập niên sau, những câu nói vui ấy vẫn là một trong những chi tiết ông Thanh nhớ nhất về lần duy nhất được gặp Bác. Với cậu học trò miền nam 12 tuổi ngày ấy, sự gần gũi không chỉ đến từ cái xoa đầu, cái ôm hay giọng hỏi chuyện ân cần, mà còn từ việc Bác hiểu và nhắc lại những cách nói rất riêng của từng vùng quê miền nam.
Sau cuộc trò chuyện, Bác cùng các học sinh xem phim hoạt hình về thiếu nhi miền nam. Trước khi chia tay, Người còn hỏi đến những học sinh ở trường không được đi hôm ấy để gửi bánh, kẹo về cho các em.
Khi những chiếc xe chuẩn bị đưa đoàn trở lại trường, nhiều học sinh không kìm được nước mắt. Trong hồi ức của ông Thanh, ông và các bạn khi ấy chỉ mong giây phút được ở bên Bác “cứ kéo dài mãi”.
Đó là lần duy nhất ông Huỳnh Xuân Thanh được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong những năm ông Thanh học tập ở miền bắc, chiến tranh tại quê nhà ngày càng ác liệt.
Cha ông, Huỳnh Xuân Nhị, tiếp tục hoạt động tại Đại Lộc. Đến năm 1969, ông là Bí thư Huyện ủy Đại Lộc, Ủy viên Đặc khu ủy Quảng Đà.
Trong quá trình hoạt động và chiến đấu, ông Huỳnh Xuân Nhị trực tiếp chỉ huy, tham gia 11 trận đánh, cùng lực lượng tiêu diệt 70 tên địch, thu nhiều quân trang, quân dụng. Theo hồ sơ thành tích và các tư liệu được công bố, ông được tặng Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Độc lập hạng Nhì, hai Huân chương Quyết thắng hạng Nhất và ba lần được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Tháng 6/1969, khi đang chủ trì Hội nghị Huyện ủy mở rộng tại xã Đại Cường, ông Huỳnh Xuân Nhị hy sinh trong một trận pháo kích.
Ông Hoàng Ngọc Thừa, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy Đại Lộc, người có mặt tại cuộc họp hôm ấy kể lại, ông Nhị là người xuống hầm cuối cùng sau khi yêu cầu mọi người tìm nơi trú ẩn. Mảnh pháo trúng vào đầu khiến ông bị thương rất nặng. Trước lúc mất, ông vẫn căn dặn đồng đội cố gắng giữ vững phong trào.
Liệt sĩ Huỳnh Xuân Nhị (Huỳnh Chúc), nguyên Bí thư Huyện ủy Đại Lộc, sau này được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tấm bằng hiện được gia đình ông Thanh lưu giữ.
Một năm sau khi cha hy sinh, mẹ ông Thanh cũng ngã xuống. Bằng Tổ quốc ghi công gia đình còn lưu giữ ghi liệt sĩ Hồ Thị Ngoạn, cán bộ giao liên Quận ủy, Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, hy sinh ngày 15/6/1970 trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Trong khi ông Thanh tiếp tục học tập ở miền bắc, những người em còn nhỏ ở quê được họ hàng và bà con cưu mang.
Năm 1975, đất nước thống nhất, ông Huỳnh Xuân Thanh trở về quê hương. Người học sinh rời Quảng Nam năm 12 tuổi nay đã trưởng thành nhưng cha mẹ đều không còn.
Mang trên mình vết thương chiến trường và nỗi đau mồ côi cả cha lẫn mẹ, ông Thanh không gục ngã, ông tiếp tục học tập và tốt nghiệp ngành Kinh tế kế hoạch tại Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Sau khi ra trường, ông công tác tại nhiều cơ quan nhà nước, trong đó có thời gian làm việc tại Sở Tài chính-Vật giá Đà Nẵng; đồng thời hoàn thành chương trình cao cấp lý luận chính trị.
Bên cạnh công việc chuyên môn, ông theo đuổi võ thuật và được biết đến với võ danh Hoàng Tử Long. Năm 2012, ông nghỉ hưu. Từ năm 2016 đến ngày 30/6/2026, ông tiếp tục tham gia công tác tại khu dân cư với vai trò Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh; sau đó xin thôi tham gia vì lý do sức khỏe.
Nghỉ công tác thường xuyên nhưng ông vẫn giữ mối quan tâm với những việc chung. Ở tuổi ngoài 70, ông tham gia hoạt động của cựu chiến binh, dòng họ, thiện nguyện; trong khả năng của mình, ông kết nối, chia sẻ thông tin và hỗ trợ rất nhiều gia đình còn trên hành trình tìm kiếm người thân đã hy sinh trong chiến tranh.
Hằng năm, vào mùng 3 Tết, người ta thấy một ông lão 73 tuổi ăn bận chỉnh tề, đứng lặng lẽ mỉm cười bên cột biển đường mang tên "HUỲNH XUÂN NHỊ" tại thành phố Đà Nẵng. Đó là ngày sinh của cha ông. Tên người cha ngã xuống năm xưa nay đã được đặt cho một con đường, hiện diện giữa nắng gió quê hương và dòng người qua lại mỗi ngày.
Sáu mươi hai năm kể từ ngày trúng mảnh pháo ở Đồng Đình và hơn sáu thập niên sau buổi chiều 30/8/1964 được Bác Hồ ôm vào lòng, ông Huỳnh Xuân Thanh nay đã ở tuổi 74. Dịp kỷ niệm Quốc khánh 2/9/2026, ông đón nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, thêm một dấu mốc trên chặng đường dài đã đi qua.
Trong những điều ông nhớ nhất vẫn là lời Bác căn dặn những học sinh miền nam phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng là những “hạt giống đỏ” được đồng bào miền nam gửi ra bắc. Lời căn dặn ấy đã theo ông từ những năm tháng học tập trên miền bắc đến ngày trở về quê hương sau khi đất nước thống nhất; qua những năm công tác và cả khi trở về với cuộc sống đời thường, vẫn thẳng thắn, nhiệt tình với những việc chung.
Hơn sáu thập niên đã qua, ông Thanh vẫn nhớ rõ bàn tay Bác xoa đầu mình năm 12 tuổi - điểm tựa tinh thần nâng đỡ ông đi qua chiến tranh, ngày trở về và cuộc sống hôm nay.
Phía sau hành trình của cậu bé giao liên năm ấy còn là những tấm Bằng Tổ quốc ghi công đã ngả màu thời gian. Chúng không chỉ lưu dấu ký ức của một gia đình đất Quảng, mà còn khắc ghi tên tuổi của những người thân đã lặng lẽ ngã xuống qua hai cuộc kháng chiến như một sự nối tiếp của lòng kiên trung và niềm tự hào.
(Còn nữa)