Ba giải pháp cho ngành chăn nuôi vững đà tăng trưởng năm 2024

Ngành chăn nuôi Việt Nam đang có những bước phục hồi tích cực sau những khó khăn trong vài năm qua. Để duy trì đà tăng trưởng này trong năm 2024, ngành chăn nuôi cần tập trung vào 3 giải pháp chủ chốt nhằm đối phó với các thách thức và tận dụng cơ hội phát triển.
(Ảnh: Thành Đạt)
(Ảnh: Thành Đạt)

Ngành chăn nuôi được kỳ vọng sẽ hồi phục trở lại

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành chăn nuôi trong quý I/2024 đã ghi nhận những con số tăng trưởng khá ổn định. Tổng sản lượng thịt hơi các loại trong giai đoạn này ước đạt trên 2 triệu tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ năm 2023. Trong đó, chăn nuôi lợn vẫn là hoạt động chủ lực, chiếm 64% tổng sản lượng các loại vật nuôi được sản xuất trong nước.

Không chỉ phía sản xuất, giá thành đầu ra cũng hồi phục mạnh trong 4 tháng đầu năm. Ghi nhận trong sáng hôm nay (29/5), giá lợn hơi xuất chuồng đã chạm ngưỡng 70.000 đồng/kg, mức cao nhất trong 5 năm qua. Diễn biến tăng giá mạnh, đặc biệt là trong giai đoạn tháng 4 hằng năm là hiện tượng hiếm thấy bởi nhu cầu tiêu thụ thường giảm vào mùa hè.

Theo Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), nguồn cung lợn hơi nội địa vẫn đang ở mức thấp, sau đợt dịch tả heo châu Phi (ASF) và lượng nhập khẩu giảm do chênh lệch với giá lợn từ Campuchia và Thái Lan thu hẹp. Trong khi đó, các doanh nghiệp và hộ chăn nuôi vẫn ở trong giai đoạn tái đàn, phải chờ ít nhất là tới cuối năm nay mới có thể đưa ra thị trường tiêu thụ. Chính vì thế, giá lợn hơi được kỳ vọng vẫn sẽ neo cao trong trung hạn, củng cố triển vọng lạc quan của ngành chăn nuôi trong năm 2024.

Ưu thế vẫn thuộc về doanh nghiệp ngoại

Đà tăng trưởng ổn định thể hiện ngành chăn nuôi vẫn có tiềm năng phát triển khá rộng, và phản ánh những chuyển biến từ trong cơ cấu thị trường sau các chính sách hướng tới hỗ trợ phát triển quy mô doanh nghiệp thay vì các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.

Theo Bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong vòng 5 năm qua, số lượng cơ sở chăn nuôi nhỏ quy mô nông hộ nhỏ lẻ đã giảm 15-20%. Tỷ trọng sản xuất trong hộ chăn nuôi chuyên nghiệp, trang trại chiếm 60-65%. Đây là hệ quả tất yếu khi ngành chăn nuôi phải thay đổi, thích nghi sau nhiều biến cố kể từ dịch Covid-19. Chăn nuôi lợn theo chuỗi liên kết khép kín là giải pháp cốt lõi để phát triển bền vững.

Tuy nhiên, giai đoạn khó khăn đi qua cũng làm lộ rõ những khó khăn mà ngành chăn nuôi Việt Nam đang phải đối mặt, khi các doanh nghiệp ngoại vẫn đang dẫn đầu đường đua và ngày càng có ưu thế hơn. Theo thống kê của Bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay, nước ta có khoảng 265 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó có 85 nhà máy thuộc doanh nghiệp nước ngoài, chiếm tỷ lệ 32% nhưng lại nắm giữ 65% thị phần.

Một trong những nguyên nhân là các doanh nghiệp nước ngoài thường có chiến lược kinh doanh bài bản và áp dụng chuỗi sản xuất kinh doanh khép kín, giúp tối ưu hóa hiệu quả. Ngoài ra, một yếu tố khác khiến các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước kém cạnh tranh là sự phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu. Điều này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn khiến các doanh nghiệp nội địa khó có thể cạnh tranh về giá với các doanh nghiệp nước ngoài có chuỗi cung ứng ổn định và chi phí thấp hơn.

Giải pháp cho vấn đề nguồn nguyên liệu

Hằng năm, Việt Nam dành nguồn ngân sách rất lớn để nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương, lúa mì để phục vụ sản xuất trong nước. Ngành chăn nuôi tiêu thụ hơn 33 triệu tấn thức ăn/năm, chủ yếu dành cho chăn nuôi gia cầm và lợn. Tuy nhiên, sản lượng nội địa chỉ có thể đáp ứng khoảng 1/3 nhu cầu này.

Theo số liệu Hải quan, trong tháng 4/2024, Việt Nam chi 498,82 triệu USD để nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu, tăng 6,7% so tháng 3/2024 và tăng 34,8% so tháng 4/2023. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2024 nhập khẩu nhóm hàng này đạt gần 1,69 tỷ USD, tăng 9,8% so 4 tháng đầu năm 2023.

Một số mặt hàng nhập khẩu chính bao gồm: ngô, đậu tương, lúa mì đều có khối lượng tăng mạnh so 4 tháng đầu năm 2023. Mặc dù vậy, tăng trưởng về kim ngạch nhập khẩu các loại nguyên liệu thô vẫn chậm hơn đáng kể bởi giá nông sản thế giới đã ở trong xu hướng giảm mạnh kể từ năm 2022 cho tới cuối tháng 2 năm nay.

MXV cho biết, mặc dù giá thành đầu ra tăng cao đi kèm với chi phí nguyên liệu giảm đã tạo ra bối cảnh thị trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp chăn nuôi nhưng tình hình sắp tới có thể sẽ khó khăn hơn. Nhu cầu nhập khẩu dự báo vẫn sẽ tăng nhẹ trong năm 2024 trong khi giá các loại nông sản thế giới đang có dấu hiệu đảo chiều, nhảy vọt trong vòng 1 tháng gần đây.

Giá ngô, lúa mì Chicago lần lượt ghi nhận các đợt tăng mạnh lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2023. Đà tăng vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại khi lo ngại về nguồn cung tại các nước sản xuất lớn không ngừng gia tăng, đặc biệt là hiện tượng sương giá gần đây ảnh hưởng nghiêm trọng tới vụ lúa mì của Nga và rủi ro khi mùa vụ của Mỹ bước vào giai đoạn phát triển quan trọng.

Theo ông Phạm Quang Anh, Giám đốc Trung tâm tin tức hàng hóa Việt Nam, để ứng phó với tình trạng chi phí nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng cao, các doanh nghiệp cần thực hiện một số biện pháp quan trọng.

Thứ nhất, các doanh nghiệp nên chủ động tìm kiếm nguồn cung mới và thay đổi công thức cám để sử dụng các sản phẩm thay thế khi giá nguyên liệu tăng. Ví dụ, có thể sử dụng lúa mì hoặc sắn lát thay thế ngô. Việc này giúp giảm sự phụ thuộc vào một loại nguyên liệu duy nhất và linh hoạt hơn trong sản xuất.

Thứ hai, các doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư vào các nhà máy ép dầu để chủ động chuỗi cung ứng khô đậu tương, một nguyên liệu có giá trị cao và khó thay thế. Việt Nam có thể nhập khẩu đậu tương hạt để ép dầu, tạo ra các sản phẩm như khô đậu cho thức ăn chăn nuôi, dầu đậu phục vụ cho thực phẩm và vỏ đậu tương cho sản xuất thức ăn cho bò sữa. Điều này không chỉ giúp ổn định nguồn cung mà còn nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm trong nước.

Thứ ba, để giảm thiểu rủi ro chi phí nguyên liệu tăng, các doanh nghiệp nên sử dụng công cụ bảo hiểm giá (hedging) trong quá trình nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Việc áp dụng các công cụ tài chính này giúp doanh nghiệp ổn định chi phí đầu vào trước những biến động trên thị trường quốc tế.

Có thể bạn quan tâm

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 12/5: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng gần 2 triệu đồng/lượng

Giá vàng thế giới hôm nay (12/5) tiếp đà tăng nhờ lực mua mạnh mẽ từ các ngân hàng trung ương và xu hướng đa dạng hóa dự trữ ngoại hối, giao dịch ở mức 4.729,2 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng, vàng nhẫn SJC đảo chiều tăng 1,8 triệu đồng mỗi lượng, niêm yết lần lượt ở mức 167 triệu đồng/lượng và 166,5 triệu đồng/lượng.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 9/5: Thế giới tiếp đà tăng, trong nước duy trì ở mức cao

Giá vàng thế giới hôm nay (9/5) tiếp tục đi lên trong bối cảnh đồng USD và lãi suất trái phiếu Mỹ suy giảm, giao dịch ở mức 4.713,7 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC duy trì ở ngưỡng cao, niêm yết lần lượt ở mức 167,5 triệu đồng/lượng và 167 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn Doji neo ở mức 167,5 triệu đồng/lượng.

Những người thợ đang chế tác đồ trang sức bằng bạc tại tỉnh Quý Châu, tây nam Trung Quốc, ngày 21/4/2026. (Ảnh: Tân Hoa xã)

Sáng 9/5, giá bạc thế giới tiếp đà tăng

Sáng 9/5, giá bạc thế giới tiếp đà tăng, giao dịch quanh ngưỡng 80,22 USD/ounce. Đà tăng diễn ra trong bối cảnh tâm lý lạc quan về triển vọng đạt được thỏa thuận hòa bình giữa Mỹ và Iran, giúp xoa dịu lo ngại lạm phát kéo dài có thể khiến lãi suất neo ở mức cao trong thời gian lâu hơn.

Ảnh minh họa.

MXV-Index giảm nhẹ phiên thứ hai, ca cao tiếp tục đi ngược xu hướng thị trường

Lo ngại thiếu hụt nguồn cung tại Tây Phi tiếp tục hỗ trợ đà tăng của giá ca-cao, đưa mặt hàng này nối dài chuỗi tăng sang phiên thứ 8 liên tiếp. Ở chiều ngược lại, giá dầu đậu tương quay đầu suy yếu khi giá dầu thô hạ nhiệt khiến dòng tiền đầu cơ đẩy mạnh chốt lời. Đóng cửa, chỉ số MXV-Index giảm nhẹ 0,1% xuống còn 2.889 điểm.

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng ngày 8/5: Giá vàng trong nước đứng yên, giá thế giới tiếp đà tăng

Giá vàng thế giới hôm nay (8/5) tiếp đà tăng, giao dịch trên mốc 4.700 USD/ounce khi giá dầu thô giảm, đồng USD suy yếu và lợi suất trái phiếu kho bạc giảm trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Iran hạ nhiệt và eo biển Hormuz có thể được mở lại. Trong nước, giá vàng SJC bán ra ở mức 167,5 triệu đồng/lượng, không đổi so kết phiên hôm qua.

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, sửa đổi quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng.

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP với những quy định mới về thuế giá trị gia tăng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP về thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP, trong đó bổ sung nhiều đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 20/6/2026.

Ảnh minh họa.

Lực mua áp đảo, MXV-Index bật tăng lên 2.957 điểm

Phiên giao dịch ngày 4/5 cho thấy thị trường hàng hóa toàn cầu tiếp tục chịu chi phối của các yếu tố địa chính trị, với tâm điểm là căng thẳng leo thang tại Trung Đông. Diễn biến này khiến nhóm năng lượng biến động mạnh theo từng nhịp tin tức.

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng ngày 4/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại trong khi giá thế giới giảm

Giá vàng thế giới hôm nay (4/5) tiếp tục giảm xuống giao dịch dưới mốc 4.600 USD/ounce trong bối cảnh kim loại quý này đang chịu áp lực từ lạm phát, môi trường lãi suất cao và căng thẳng địa chính trị. Trong nước, giá vàng đồng loạt tăng ngược chiều thế giới; giá vàng SJC bán ra ở mức 166,6 triệu đồng/lượng.