9 giờ cân não ghép gan cho bệnh nhi nặng 8 kg

Ca ghép gan thứ 25 tại Bệnh viện Nhi Trung ương và là ca ghép gan được thực hiện hoàn toàn bởi các y, bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương vừa được thực hiện thành công cho một bệnh nhi mắc bệnh gan giai đoạn cuối.

Các bác sĩ tiến hành lấy và ghép gan cho bệnh nhi.
Các bác sĩ tiến hành lấy và ghép gan cho bệnh nhi.

Bé trai 9 tháng tuổi, ở Lâm Đồng, cân nặng 8,2 kg, được chỉ định ghép gan do có bệnh gan giai đoạn cuối do tình trạng xơ gan mật tiến triển của trẻ teo mật bẩm sinh. 

Thời điểm nhập viện, tình trạng của bệnh nhân đã khá nặng. Do tình trạng thiếu máu và rối loạn đông máu nặng, trẻ thường xuyên phải sử dụng các chế phẩm máu và các thuốc điều trị hỗ trợ. Để cứu sống bệnh nhi, ghép gan là phương pháp duy nhất.

TS, BS Nguyễn Phạm Anh Hoa, Trưởng Khoa Gan Mật, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, teo mật bẩm sinh là một bệnh lý hiếm gặp của gan và đường mật. Tỷ lệ mắc bệnh vào khoảng 1/10.000 trẻ sơ sinh sống. Đây là bệnh khiến toàn bộ hệ thống đường mật trong và ngoài gan đều bị tổn thương gây hậu quả xơ gan mật với các hậu quả nặng nề. Tuy được phẫu thuật nối mật-ruột (phẫu thuật Kasai), một số trẻ teo mật bẩm sinh vẫn có tình trạng xơ gan mật tiến triển và cần có chỉ định ghép gan điều trị.

PGS, TS Phạm Duy Hiền, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương - người trực tiếp thực hiện và chỉ đạo kỹ thuật ca ghép gan của bệnh nhi cho biết, ca ghép gan này được thực hiện trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 phức tạp với rất nhiều khó khăn. Cả ê-kíp ghép đều cùng nhau xác định trước các nguy cơ có thể xảy ra trước, trong và sau ghép để cùng tìm các giải pháp tốt nhất vượt qua các nguy cơ đó.

Ca ghép gan được chuẩn bị với sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của nhiều chuyên gia ở các khoa Gan mật, Ngoại tổng hợp, Gây mê, Hồi sức ngoại, trung tâm xét nghiệm cận lâm sàng, Ngân hàng máu, chẩn đoán hình ảnh…

Ngày 14/3/2022 ca đại phẫu được tiến hành, sau 9 giờ căng thẳng, PGS, TS Phạm Duy Hiền và ê-kíp phẫu thuật viên Bệnh viện Nhi Trung ương đã ghép gan cho bé thành công. Bệnh nhi được hồi sinh nhờ  sự quyết tâm của đội ngũ y, bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương cùng sự yêu thương của gia đình, đặc biệt là cha em - người đã hiến một phần gan để cứu sống con mình.

Sau phẫu thuật, hiện bệnh nhi được chăm sóc sau ghép tại khoa Điều trị tích cực Ngoại khoa, Bệnh viện Nhi Trung ương.

Chia sẻ về quá trình chăm sóc cho bệnh nhi, TS, BS Đặng Ánh Dương, Trưởng khoa Điều trị tích cực Ngoại khoa cho biết, bệnh nhi được chăm sóc hậu phẫu với chế độ hồi sức đặc biệt trong phòng vô khuẩn. Các bác sĩ đã tiến hành cho bệnh nhi thở máy 24 tiếng, hỗ trợ ô-xy tối đa, duy trì huyết áp, truyền chế phẩm về máu để điều chỉnh tình trạng đông máu, dùng các thuốc ức chế thải ghép… Sức khoẻ của trẻ sau ghép diễn biến tốt, chức năng khối ghép dần ổn định.

Đầu năm 2021, Bệnh viện Nhi Trung ương được Bộ Y tế thẩm định hồ sơ và chính thức cho phép triển khai kỹ thuật lấy, ghép gan.

PGS, TS Trần Minh Điển, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết đây là thủ tục cần thiết để bệnh viện triển khai kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh trẻ em phù hợp với các quy định pháp lý, tiến tới trở thành quy trình kỹ thuật thường quy tại bệnh viện. Đến nay, Bệnh viện Nhi Trung ương đã thực hiện thành công 25 ca ghép gan.

“Với 25 ca ghép gan, Bệnh viện Nhi Trung ương hiện là đơn vị có số ca ghép gan nhi nhiều nhất tại Việt Nam hiện nay. Trong những ca ghép này, bệnh viện đã thực hiện các ca ghép gan đòi hỏi kỹ thuật khó, bệnh lý phức tạp như bất đồng nhóm máu, ghép gan cho trẻ ung thư gan, bệnh lý di truyền, đặc biệt là ghép gan được cho bệnh nhi có cân nặng thấp.

Hơn nữa, người bệnh được tiếp cận với phương pháp điều trị tiên tiến, tiết kiệm thời gian, chi phí phẫu thuật cũng như chi phí đi lại, sinh hoạt so với việc thực hiện ở nước ngoài, đồng thời giúp người bệnh thuận lợi hơn trong quá trình tái khám sau ghép…”, PGS, TS Trần Minh Điển nhấn mạnh.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.