Đồng bào Xơ-đăng. (Ảnh: Thành Đạt)

Dân tộc Xơ-đăng

NDO - Người Xơ-đăng ngụ cư lâu đời ở vùng Tây Nguyên. Trong quá trình hình thành và phát triển, người Xơ-đăng còn bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc.

1. Nguồn gốc lịch sử:

Đồng bào Xơ-đăng có một quá trình lịch sử rất lâu đời sinh sống tại vùng Bắc Tây Nguyên. Khoảng những năm 1855-1885, khi người Pháp ra sức củng cố chính quyền ở Đông Dương và khi giữa các bộ lạc miền núi xảy ra tình trạng hỗn loạn, thì người Xơ-Đăng mở rộng lãnh thổ sinh sống của mình sang những bộ lạc láng giềng.

Dân tộc Xơ-đăng, còn có tên gọi khác là Xơ Đeng, Ca Dong, Cà Dong, Tơ-dra, Hđang, Mơ-nâm, Ha Lăng, Ka Râng, Bri La Teng, Con Lan.

Dân tộc Xơ-đăng ảnh 1
Đồng bào Xơ-đăng chuẩn bị thực hiện nghi lễ cúng bến nước. (Ảnh: Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam)

2. Phân bố địa lý:

Người Xơ-đăng là 1 trong 12 tộc người thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, cư trú chủ yếu ở tỉnh Kon Tum và một phần ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Gia Lai...

3. Dân số, ngôn ngữ:

- Dân số: Theo số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/ 2019, tổng dân số người Xơ-Đăng: 212.277 người; dân số nam: 104.513 người; dân số nữ: 107.764 người; quy mô hộ: 4,3 người/hộ; tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 93.7%.

- Ngôn ngữ: Dân tộc Xơ-đăng sử dụng tiếng Xơ-đăng - một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn - Khơ me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Người Xơ-Đăng còn có chữ viết dựa trên hệ chữ cái La-tinh, đây là hệ chữ mới hình thành cách đây mấy chục năm.

4. Đặc điểm chính:

- Thiết chế xã hội truyền thống: Người Xơ-đăng sống quần cư với nhau thành làng (plơi). Trong mỗi làng truyền thống bao gồm nhiều nóc nhà dài nơi nhiều thế hệ gia đình người Xơ-đăng cùng sinh sống. Đứng đầu làng là già làng - người điều hành mọi sinh hoạt chung trong làng và đại diện của dân làng. Người dân trong một làng luôn đùm bọc, giúp đỡ nhau vì vậy trong làng của người Xơ-đăng hiếm thấy trường hợp một người bị đói trong khi kho thóc người khác còn đầy.

Xét về mặt gia đình, người Xơ-đăng phân thành đại gia đình (On vêă): thường bao gồm nhiều cặp vợ chồng cùng các thế hệ con cháu cùng chung huyết thống của họ sống với nhau dưới một mái nhà dài, và tiểu gia đình (Kla on vêă): gồm 2-3 thế hệ cùng chung sống.

Dân tộc Xơ-đăng ảnh 2
Cụ già người Xơ-đăng. (Ảnh: Thành Đạt)

- Tôn giáo, tín ngưỡng: Người Xơ-đăng theo tín ngưỡng đa thần bởi quan niệm vạn vật hữu linh, tức mọi vật đều có linh hồn. Ngoài thế giới thần linh, người Xơ-đăng còn quan niệm mỗi người có ba loại hồn: Hồn mhoa con xoang hay con lung luôn ở với thể xác, lúc sống cũng như lúc chết; hồn mhoa plo thường lang lang đây đó, do vậy hay bị ma bắt nạt làm người sinh ốm đau; hồn thứ ba là mhoa mngô mnghiêng thường sống ở trong các tổ mối, từ đó có nhiều lễ cúng liên quan.

- Trang phục: Phụ nữ Xơ-đăng mặc áo (ao goh), váy (ktắc), tấm choàng (khăn vai). Nam giới thì quấn khăn (trăng) hoặc đóng khố (kpen tích).

- Ẩm thực: Nguồn lương thực chủ yếu của người Xơ-đăng là gạo, gồm gạo tẻ, gạo dẻo và gạo nếp. Vào những dịp đầu năm, cúng sửa máng nước, cúng nhà rông hoặc khi săn được thú lớn, người Xơ-đăng tập trung ở nhà rông để ăn chung với nhau một bữa. Đồ ăn lúc này chủ yếu là cơm, thịt.

Dân tộc Xơ-đăng ảnh 3
Nghệ nhân Y Sinh thực hiện thao tác làm đàn Klông Pút - nhạc cụ truyền thống của người Xơ-đăng. (Ảnh: Báo Dân tộc và phát triển)

- Giáo dục: Theo số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/ 2019: tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông là 76.9%, tỷ lệ người đi học chung cấp tiểu học 100.7%, tỷ lệ người đi học chung cấp trung học cơ sở là 85.1%, tỷ lệ người đi học chung cấp trung học phổ thông là 35.7%, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường là 19.1%.

- Nhạc cụ: Nhạc cụ của người Xơ-đăng rất phong phú, gồm nhiều loại khác nhau như đàn t’rưng, sáo lô lé hay ga vố, khèn ống vỗ, đàn bầu (brung), hay bróoc tru...

- Lễ tết: Người Xơ-đăng có rất nhiều lễ hội trong năm, như: Lễ đâm trâu (Ka Pô); Lễ cơm mới; Lễ cúng máng nước;… Trong đó, Lễ hội mừng năm mới là ngày hội lớn trong năm của đồng bào Xơ-đăng nhằm tổng kết thu hoạch sau một mùa rẫy, đồng thời cũng nhằm tạ ơn các Giàng (thần) đã cho mùa màng bội thu.

5. Điều kiện kinh tế:

Một bộ phận người Xơ-đăng biết trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm nhưng theo lối sơ khai như làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần... Làm nương rẫy vẫn đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế của người Xơ-đăng, với phương thức canh tác thô sơ như: chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía...

Dân tộc Xơ-đăng ảnh 4
Khố hoa – nét đặc trưng độc đáo của người Xơ Đăng. (Ảnh: Báo Dân tộc và phát triển)

Người Xơ-đăng còn biết dệt vải, rèn (phát triển ở nhóm Tơ Ðrá). Ở một số nơi, người Xơ-đăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Nghề đan lát cũng phát triển trong cộng đồng người Xơ-đăng. Hiện nay đồng bào cũng đã biết dùng tiền làm vật trao đổi.

Theo số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số 1/4/ 2019: Dân tộc Xơ-đăng có: Tỷ lệ thất nghiệp 0.66%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ: 4.3%; Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực phi nông nghiệp: 4.8%; Tỷ trọng lao động làm công việc quản lý hoặc CMKT bậc cao và trung: 1.7%; Tỷ lệ hộ nghèo: 44.9%; Tỷ lệ hộ cận nghèo: 9.8%; Tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh: 66.5%; Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới để thắp sáng: 93.4%.

● Français: L’ethnie Xơ Đăng

Theo Ủy ban Dân tộc, Tổng cục Thống kê, "Các dân tộc ở Việt Nam" (NXB Chính trị Quốc gia Sự thật)