Đa dạng nguồn cung nguyên liệu ngành chăn nuôi Việt Nam

Sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu vốn là điểm yếu của ngành chăn nuôi Việt Nam. Trước những thay đổi đột ngột của thị trường hàng hóa trong 2 năm qua, vấn đề này ngày càng bộc lộ rõ hơn. Ngoài việc tự chủ nguyên liệu đầu vào, đâu sẽ là giải pháp giúp các doanh nghiệp nước ta đứng vững trước sự biến động của nguồn cung nhập khẩu?
Ảnh minh họa. (Nguồn: Reuters)
Ảnh minh họa. (Nguồn: Reuters)

Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, Việt Nam nhập khẩu trung bình 20-22 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi mỗi năm, tương đương 60% nhu cầu toàn ngành. Trong đó, ngô chiếm khoảng 50% và lúa mì chiếm khoảng 10% khối lượng các lô hàng trên. Khi giá ngô tăng cao, lúa mì cũng được coi là loại nguyên liệu thay thế phù hợp.

Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV) cho biết, giá lúa mì Chicago liên tục ghi nhận những diễn biến khó lường trong giai đoạn đầu năm 2022, theo sau cuộc xung đột tại Ukraine cũng như lệnh cấm xuất khẩu của Ấn Độ nhằm kiểm soát tình trạng lạm phát giá lương thực tại quốc gia này. Mặc dù đã hạ nhiệt kể từ nửa cuối năm ngoái, nhưng những biến động vừa qua của giá lúa mì cũng đã đặt ra nhiều thách thức cho ngành chăn nuôi của nước ta.

Sự phụ thuộc vào nguồn cung lúa mì từ Australia

Dữ liệu sơ bộ từ Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy, nước ta đã nhập khẩu 1,21 triệu tấn lúa mì trong quý I năm nay, tăng 14% so cùng kỳ năm ngoái. Trong giai đoạn này, Australia là nhà cung cấp lúa mì lớn nhất cho nước ta với 814.288 tấn. Brazil đứng vị trí thứ hai trong danh sách với 261.648 tấn.

Trên thực tế, Brazil chỉ xuất khẩu lúa mì sang Việt Nam trong những tháng đầu năm, khi mà quốc gia Nam Mỹ này vừa kết thúc vụ thu hoạch và nguồn cung vẫn còn dồi dào. Nếu xét kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm, Brazil thậm chí còn là nước nhập khẩu ròng lúa mì.

Trong khi đó, Australia liên tục giữ vững vị thế là nhà cung cấp lúa mì lớn nhất của Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây. Trong cơ cấu nhập khẩu lúa mì hàng năm của nước ta, nguồn cung từ Australia chiếm khoảng 75%.

Ông Phạm Quang Anh, Giám đốc Trung tâm Tin tức Hàng hóa Việt Nam, cho biết: “So với các nhà cung cấp lúa mì lớn trên thế giới, Australia có vị trí địa lý gần với Việt Nam nhất. Do đó, các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi của nước ta thường sẽ lựa chọn nhập khẩu lúa mì từ quốc gia này để tiết kiệm chi phí vận tải, vốn chiếm một phần lớn trong chi phí nhập khẩu nguyên liệu đầu vào”.

Rủi ro nguồn cung từ Australia khi El Nino quay trở lại

Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia của Mỹ (NOAA) dự báo, hiện tượng thời tiết El Nino sẽ hình thành trong mùa hè năm nay, thay thế cho hiện tượng La Nina vốn đã kéo dài trong 3 năm liên tục kể từ tháng 9/2020.

La Nina là hiện tượng thời tiết diễn ra có tính chu kỳ, với đặc trưng là nhiệt độ mặt biển ở vùng xích đạo Thái Bình Dương lạnh hơn bình thường. Dưới ảnh hưởng của La Nina, thời tiết trở nên mát mẻ và ẩm ướt hơn tại châu Á và châu Đại Dương.

Trái với La Nina, đặc trưng của El Nino là sự nóng lên bất thường của nhiệt độ bề mặt đại dương ở phía đông và trung tâm Thái Bình Dương. Do tác động của El Nino, các khu vực ở châu Á và châu Đại Dương sẽ phải đối mặt với tình trạng nắng nóng và khô hạn.

Nhờ có lượng mưa dồi dào mà hiện tượng La Nina mang lại, sản lượng lúa mì của Australia đã liên tiếp phá kỷ lục trong giai đoạn 2020-2022. Tuy nhiên, sự xuất hiện của El Nino có thể gây ra một mùa đông khô hạn ở miền trung và miền tây Australia và gây áp lực lên vụ lúa mì năm nay của quốc gia này.

Giải pháp nguồn cung nguyên liệu thay thế tiềm năng cho ngành chăn nuôi

Mặc dù không phải đối tác quan trọng của Việt Nam trong hoạt động thương mại lúa mì, nhưng lệnh cấm xuất khẩu của Ấn Độ vào giữa tháng 5 năm ngoái đã gián tiếp ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi của nước ta.

Thực tế này chỉ ra rằng, mỗi khi có những biến động mạnh về giá cả hoặc nguồn cung, các quốc gia xuất khẩu sẽ ưu tiên đảm bảo cho thị trường nội địa, và khiến các nước phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu sẽ càng gặp khó khăn hơn nữa.

Đứng trước những rủi ro tiềm ẩn về nguồn cung, ông Quang Anh cho rằng, ngành chăn nuôi của nước ta cần tìm kiếm các giải pháp thay thế, tránh rơi vào tình trạng bị động khi xảy ra những kịch bản khó lường.

“Trong số các nước xuất khẩu lúa mì lớn trên thế giới, Nga sẽ là nguồn cung thay thế tiềm năng, không chỉ bởi quốc gia này đã có một vụ mùa bội thu trong năm 2022, mà còn do Nga đã từng là đối tác thương mại nông nghiệp hàng đầu của nước ta trong quá khứ”, ông Quang Anh cho biết thêm.

Theo dữ liệu chính thức từ Tổng cục Hải quan, nước ta đã nhập khẩu 2,91 triệu tấn lúa mì Nga trong năm 2018. Tuy nhiên, nước ta đã cắt giảm hầu như toàn bộ hoạt động nhập khẩu lúa mì từ nước này kể từ năm 2019, sau khi hạt giống cây cúc gai được phát hiện trong các lô hàng, dấy lên lo ngại giống cây ngoại lai này có thể phát tán và gây thiệt hại cho mùa màng.

Vào cuối năm ngoái, Cơ quan Giám sát an toàn nông nghiệp của Nga cho biết, các lô hàng lúa mì thử nghiệm được trồng ở những vùng không có cây cúc gai sẽ được gửi tới Việt Nam, nhằm mục đích nối lại hoạt động xuất khẩu lúa mì sang nước ta. Hiện tại, 18 nhà sản xuất ngũ cốc của Nga đã được Việt Nam công nhận đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kiểm dịch thực vật.

Trong tương lai xa hơn, Brazil cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành chăn nuôi trong nước. Vốn đã là nhà xuất khẩu đậu tương, khô đậu tương và ngô hàng đầu trên thế giới, Brazil cũng đang lên kế hoạch để trở thành nước xuất khẩu ròng lúa mì trong những năm tới.

Nếu như đa dạng hóa được nguồn cung nguyên liệu đầu vào, ngành chăn nuôi nước ta không những sẽ trở nên vững vàng hơn trước những biến động của thị trường hàng hóa toàn cầu, mà còn phần nào giải quyết được bài toán về chi phí đầu vào, vốn là mối quan tâm hàng đầu đối với các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Có thể bạn quan tâm

Công nhân làm việc tại một nhà máy lọc dầu. (Nguồn: THX/TTXVN)

Giá dầu lập đỉnh 15 tháng, kim loại quý kéo MXV-Index giảm mạnh

Thị trường hàng hóa vừa trải qua một phiên giao dịch đầy biến động với diễn biến phân hóa. Áp lực chốt lời mạnh trên thị trường bạc và bạch kim đã góp phần kéo chỉ số MXV-Index giảm 1,7%, xuống còn 2.685 điểm, chấm dứt chuỗi tăng 5 phiên liên tiếp trước đó.

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng lập đỉnh mới từng ngày, chuyên gia dự báo vượt mốc 5.000 USD/ounce vào tuần tới

Giá vàng thế giới kết thúc tuần quanh mức 4.980 USD/ounce. Phần lớn các chuyên gia và nhà đầu tư đều lạc quan rằng vàng sẽ tiếp tục tăng giá trong tuần tới. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC tăng "phi mã", lần lượt giao dịch ở mức 174,3 và 173 triệu đồng/lượng, tăng 11,5 và 13,3 triệu đồng/lượng so cuối tuần trước.

Thu hoạch đậu tương tại Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. (Ảnh: THX/TTXVN)

Biến động thị trường đậu tương toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp chăn nuôi Việt Nam

Mỹ và Trung Quốc từ lâu là hai mắt xích quan trọng nhất trong thương mại đậu tương toàn cầu. Một bên nắm nguồn cung lớn, bên kia là thị trường tiêu thụ số một. Tuy nhiên, từ năm 2025, dòng chảy quen thuộc này bắt đầu đổi hướng, tạo ra những dịch chuyển mới và mở ra cơ hội cho các thị trường khác, trong đó có Việt Nam.

(Ảnh minh họa: kitco.com)

Ngày 23/1, giá bạc phá đỉnh, người mua lãi gần 4 triệu đồng/kg chỉ sau một ngày

Sáng 23/1, giá bạc thế giới bật tăng mạnh mẽ, chạm mốc 99,23 USD/ounce. Trong nước, các doanh nghiệp bạc cũng điều chỉnh giá tăng mạnh ở cả hai chiều mua-bán. Đà tăng mạnh của giá bạc trong phiên này chủ yếu đến từ lực mua kỹ thuật sau nhịp điều chỉnh trước đó, kết hợp kỳ vọng về chu kỳ hạ lãi suất của FED trong năm 2026.

Ảnh: TTXVN

Bạc lập đỉnh lịch sử, MXV-Index nối dài chuỗi tăng phiên thứ ba

Bạc bứt phá mạnh, tăng hơn 4% lên quanh 96 USD/ounce, thiết lập mặt bằng giá cao kỷ lục, trong khi nhóm năng lượng phủ kín sắc đỏ với giá dầu thô đồng loạt suy yếu. Kết phiên, chỉ số MXV-Index kéo dài chuỗi tăng sang phiên thứ ba liên tiếp, nhích thêm 0,6% lên 2.591 điểm.

(Ảnh minh họa)

Giá vàng ngày 23/1: Vàng miếng, vàng nhẫn cao nhất từ trước đến nay, 173 triệu đồng/lượng

Giá vàng thế giới hôm nay (23/1) tăng vọt lên mức cao kỷ lục mới 4.955 USD/ounce bất chấp căng thẳng thương mại Mỹ-châu Âu có phần lắng dịu, dòng tiền trú ẩn đang “ồ ạt” chảy vào kim loại quý. Trong nước, giá vàng miếng SJC tăng 4 triệu đồng lên mức đỉnh mới, 173,3 triệu đồng/lượng; vàng nhẫn 171,8 triệu đồng/lượng.

(Ảnh: NGỌC BÍCH)

Chiều 21/1, giá vàng tiếp tục tăng không ngừng, chính thức đạt mốc 170 triệu đồng/lượng

Ngày 21/1, giá vàng trong nước, thế giới liên tiếp tăng, vượt qua tất cả các kỷ lục đã thiết lập trước đó. Trong phiên sáng nay, giá vàng miếng SJC trong nước tăng 3,1 triệu đồng/lượng và tiếp tục điều chỉnh giá tăng thêm 800.000 đồng vào phiên chiều, đưa giá vọt lên mốc 170 triệu đồng/lượng.

Các món trang sức bạc được trưng bày tại một tiệm vàng bạc ở Indonesia. (Ảnh: Tân Hoa xã)

Ngày 21/1: Giá bạc phục hồi sau nhịp giảm nhẹ phiên giao dịch trước

Sáng 21/1, giá bạc thế giới phục hồi mức 93,8 USD/ounce, sau nhịp giảm nhẹ phiên giao dịch hôm qua là 92,87 USD/ounce. Cùng chiều với thị trường thế giới, nhiều doanh nghiệp trong nước điều chỉnh giá bạc ở cả hai chiều mua-bán. Giá bạc Phú Quý bán ra ở mức hơn 3,64 triệu đồng/lượng và hơn 97,2 triệu đồng/kg.   

(Ảnh minh họa)

Giá vàng ngày 21/1: Vàng miếng, vàng nhẫn tăng “dựng đứng”, tiến tới mốc 170 triệu đồng/lượng

Giá vàng thế giới hôm nay (21/1) tăng “dựng đứng” lên mức cao kỷ lục mới 4.828 USD/ounce trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tiếp tục khiến dòng tiền trú ẩn “ồ ạt” chảy vào kim loại quý. Trong nước, giá vàng miếng SJC tăng 3 triệu đồng lên mức đỉnh mới, 169,2 triệu đồng/lượng; vàng nhẫn 167,6 triệu đồng/lượng.

Chỉ số MXV-Index

Thị trường hàng hóa sôi động sau nghỉ lễ Martin Luther King, giá bạch kim sát đỉnh cuối 2025

Kim loại quý, trong đó có bạch kim tiếp tục gây chú ý trong phiên giao dịch hôm qua (20/1) khi tăng vọt 5,5%, quay lại vùng đỉnh cuối năm 2025. Ở chiều ngược lại, áp lực nguồn cung tại Nga đang lan rộng sang thị trường lúa mì thế giới. Đóng cửa, lực mua áp đảo kéo chỉ số MXV-Index tăng gần 1,6%, lên mức 2.560 điểm.

(Ảnh minh họa: kitco.com)

Ngày 20/1, giá bạc giảm nhẹ sau khi lập đỉnh lịch sử

Sáng nay 20/1, giá bạc thế giới đã giảm về mức 92,87 USD/ounce sau khi đạt đỉnh kỷ lục 94,83 USD/ounce. Cùng chiều với thị trường thế giới, nhiều doanh nghiệp trong nước điều chỉnh giảm nhẹ giá bạc ở cả hai chiều mua-bán. Giá bạc Phú Quý bán ra ở mức 3,5-3,6 triệu đồng/lượng và 96-97 triệu đồng/kg.   

Chỉ số MXV-Index

Giá bạc lập đỉnh kỷ lục, MXV-Index chạm 2.516 điểm

MXV-Index tăng gần 3%, chạm mốc 2.516 điểm sau một tuần giao dịch đầy biến động. Trong khi giá Bạc tiếp tục “gây sốt” với mức bứt phá kỷ lục 12% nhờ kỳ vọng Mỹ nới lỏng tiền tệ, ở chiều ngược lại, giá ngô lại chịu áp lực lớn trước thực trạng dư cung toàn cầu.

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Tuần này, giá vàng trong nước và thế giới liên tiếp chinh phục các mức đỉnh mới

Giá vàng thế giới kết thúc tuần ở mức 4.596 USD/ounce. Các chuyên gia và nhà đầu tư đều lạc quan rằng vàng sẽ tiếp tục tăng giá trong tuần tới sau khi lập kỷ lục cao nhất mọi thời đại trong tuần này. Trong nước, giá vàng miếng SJC giao dịch ở mức 162,8 triệu đồng/lượng, tăng 3 triệu đồng so tuần trước.